Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Giới thiệu với bạn câu lạc bộ nhãn hàng 1 tỷ USD

Không ít DN đã phải "ngậm ngùi" giã từ sân chơi như việc nhà máy bia Phú Yên đã phải bán cho Masan với giá 12 triệu USD, hay bia Huda đã bị hãng bia Đan Mạch Carlsberg "nuốt chửng". Hoặc nhãn bia Laser của Tân Hiệp Phát đã "khai tử" không lâu sau khi xuất hiện trên thị trường (năm 2003), mà nguyên nhân được xác định là do "bị chặn" các đường phân phối và định vị sai phân khúc; hay trường hợp "bia kiểu Úc" của Fosters cũng không trụ nổi ở thị trường Việt Nam.
Unilever: Cuộc rượt đuổi doanh số
Doanh số của Unilever kể từ năm 1995 đã không ngừng tăng trưởng, từ 10 triệu USD đã lên đến 240 triệu USD trong năm 2002. Theo Business Monitor International (BMI), trong 5 năm qua, doanh số Unilever Việt Nam tăng trưởng bình quân hằng năm 18,5% và đạt con số 700 triệu USD trong năm 2010, 1 tỷ USD năm 2012.
Đến Việt Nam trước đối thủ P&G (năm 1994 và 1995 thành lập công ty liên doanh), Unilever (một trong 10 tập đoàn lớn nhất Hà Lan, xét theo doanh số) đã tạo lập một "đế chế” trong ngành hàng tiêu dùng.
Theo thống kê, Unilever hiện có khoảng 400 nhãn hàng trải khắp các lĩnh vực như: chăm sóc cá nhân (personal care), dịch vụ tại nhà (home care), thực phẩm; trong đó có 14 nhãn đạt doanh số trên 1 tỷ USD/năm. Nhiều mặt hành trong "rổ 1 tỷ USD" này đã có mặt tại Việt Nam, có thể kể đến như: Dove, Lifebouy, Comfort, Lipton hay Omo...
Nếu P&G tập trung nhiều vào phát triển thị trường thì từ lâu, Unilever đã tăng cường chiến lược "khoét sâu" vào "miếng bánh thị phần" ở những thị trường mới nổi. Và kết quả là năm 2012, doanh thu của Unilever toàn cầu đạt hơn 50 tỷ EUR. Riêng các thị trường mới nổi đã chiếm đến 55% trong kết quả kinh doanh này.
Tuy xét trên bản đồ doanh thu toàn cầu của Unilever, Việt Nam là một thị trường hiếm khi được nhắc đến so với Trung Quốc, Ấn Độ hay Philippines; nhưng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với quy mô dân số trẻ và tăng trưởng khá lớn, Việt Nam vẫn là mảnh đất màu mỡ của nhiều tập đoàn chuyên sản xuất trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) quan tâm.
Theo thống kê của BMI, trong số 10 tập đoàn thực phẩm lớn trên thế giới thì có ba "đại gia" tập trung mạnh nguồn lực vào thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam là Unilever, Danone và Nestlé.
Tại Việt Nam, sau khi mua lại 33,3% cổ phần của đối tác trong liên doanh vào giữa năm 2009, Unilever đã tăng cường đầu tư vào thị trường Việt Nam. Theo thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM, Unilever là một trong số hơn 40 DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với quy mô vốn lớn tại TP.HCM.
Đến năm 2012, ước tính vốn đầu tư của Unilever Việt Nam đã đạt trên 281,5 triệu USD. Hãng sản xuất hàng tiêu dùng này đã đặt 5 nhà máy tại Biên Hòa (Đồng Nai), huyện Củ Chi, quận Thủ Đức (TP.HCM) và Hà Nội.
Song song với đầu tư, Unilever đã mạnh tay quảng bá sản phẩm. Theo khảo sát của Kantar Worldpanel, trong Top 20 hãng chi tiêu nhiều cho quảng cáo trong năm 2011 thì UnileverBestFood &Elida P/S Vietnam., Ltd đứng thứ 8, với kinh phí 8,621 triệu USD.
Ngoài ra, trong Top 20 ngành hàng chi tiêu nhiều cho quảng cáo (năm 2011), mặt hàng Knorr của Unilever đứng thứ 2 (sau Dr.Thanh của Tân Hiệp Phát), với tổng kinh phí lên đến 6,94 triệu USD; trong khi không ngành hàng nào của P&G lọt vào Top 20.
Cùng với chiến lược phủ khắp các kênh truyền thông, mở rộng hệ thống phân phối, doanh số của Unilever kể từ năm 1995 đến nay đã không ngừng tăng trưởng, từ 10 triệu USD đã lên đến 240 triệu USD trong năm 2002.
Theo BMI, trong 5 năm qua, doanh số của Unilever Việt Nam tăng trưởng bình quân hàng năm là 18,5% và đạt con số 700 triệu USD trong năm 2010. Đồng thời, theo thống kê của StoxPlus, năm 2012, ước tính doanh số của Unilever tại Việt Nam là trên 1 tỷ USD.
Trong đó, một số nhãn hàng của Unilever đang chiếm giữ các vị trí cao trong nhóm đầu của thị trường Việt Nam như: bột giặt, lăn khử mùi, dầu gội... Riêng bột giặt, với 3 nhãn (Omo, Viso, Suft), Unilever đang nắm trong tay 65% thị phần của thị trường có doanh số hơn 15.000 tỷ đồng.
Theo nhận định của ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên gia tư vấn thương hiệu, Unilever đang làm tốt việc củng cố và thiết lập hệ thống phân phối tại các đô thị lớn từ các cửa hàng bán lẻ đến siêu thị. Tuy nhiên, tại nông thôn, vẫn còn nhiều khoảng trống cho các đối thủ trong nước. Song, điều này không đồng nghĩa với việc Unilever "thất thế” mà vấn đề là họ chưa tung hết lực.
Trong trường hợp Unilever cũng phát triển mô hình "Shakti" (nhân viên nhận đặt hàng qua điện thoại và giao hàng đến tận các tiệm tạp hóa nhỏ trong các ngỏ ngách của vùng nông thôn Ấn Độ) thì liệu rằng, các DN sản xuất ngành hàng FMCG nội địa có đủ sức chạy theo, ông Hoàng đặt vấn đề.
Vinamilk: Bước qua mốc 1 tỷ USD
Năm 2011 là thời điểm đánh dấu doanh thu của Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk, mã chứng khoán: VNM) vượt mốc 1 tỷ USD. Năm 2013, chỉ sau 9 tháng, công ty này đã đạt doanh thu 1 tỷ USD.
Nếu hỏi các quỹ đầu tư tài chính, cổ phiếu nào đáng quan tâm nhất thị trường chứng khoán Việt Nam, chắc chắn câu trả lời đầu tiên là VNM. Tại hội thảo "Quay về cốt lõi" tổ chức tại TP.HCM vào tháng 10/2013, Dominic Scriven, Giám đốc Điều hành Dragon Capital, đã đề cập đến VNM như là một điển hình cho DN kinh doanh thành công với ngành nghề cốt lõi.
Theo Dominic, trong thời điểm khó khăn, những công ty có ngành cốt lõi có thể kiếm nguồn vốn dễ dàng và được thị trường đánh giá cao. Điều này có thể thấy qua tỷ lệ nắm giữ của khối ngoại dành cho cổ phiếu VNM, luôn đạt mức giới hạn tối đa 49% (cổ đông nước ngoài năm 2010 là 46%; chiếm 48,99% năm 2011 và 2012 là 49%).
Vinamilk phải mất gần 10 năm mới đạt đến cột mốc doanh thu 1 tỷ USD bằng con đường khuếch trương ngành nghề cốt lõi. Năng lực cốt lõi của VNM, hay nói đúng hơn là lợi thế cạnh tranh của VNM được xác lập trong ngành sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa.
Tăng trưởng doanh thu bình quân của VNM từ 2008 - 2012 là 34%. Từ năm 2010 - 2012 không có nợ vay dài hạn. Tổng tài sản đến 2012 đạt 19.698 tỷ đồng (năm 2008 là 5.000 tỷ) và giá trị vốn hóa của VNM là 3,52 tỷ USD; tăng 52,6% so với 2011.
VNM đang chiếm ưu thế trong 4 ngành chủ lực (sữa nước, sữa đặc, sữa bột và sữa chua) từ mức độ chiếm lĩnh thị trường, số lượng nhà máy cho đến tốc độ phát triển hệ thống phân phối.
Một chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn xây dựng thương hiệu từng khẳng định, trong ngành hàng tiêu dùng nhanh, chưa doanh nghiệp nào có thể vượt qua VNM và Unilever về kênh phân phối.
Riêng trong ngành công nghiệp thực phẩm, hệ thống trên 200.000 điểm bán lẻ của VNM (tính đến cuối năm 2012) và 250 nhà phân phối của VNM là con số "mơ ước" của các đối thủ trong cùng ngành. Chuyên gia này cũng cho rằng, trong lĩnh vực FMCG, chỉ cần một phút "xao lãng" có thể DN sẽ bị đối thủ soán ngôi. Đó là lý do mà trong chiến lược phát triển, VNM không ngừng đầu tư.
Để trở thành "nhân vật số 1" trong ngành sữa tại thị trường nội địa, VNM đã từng trải qua giai đoạn thâu tóm những doanh nghiệp cùng ngành. Theo đó, sau khi cổ phần hóa Công ty năm 2003, VNM đã thâu tóm Công ty CP Sữa Sài Gòn và tăng vốn điều lệ lên 1.590 tỷ đồng vào năm 2004.
Tiếp sau đó, VNM đã mua cổ phần còn lại của đối tác trong công ty liên doanh sữa Bình Định. Đồng thời, một năm sau khi niêm yết trên HOSE (2006), nhà sản xuất sữa này đã mua cổ phần chi phối của Công ty sữa Lam Sơn và đổi tên thành Công ty CP Sữa Lam Sơn để đến năm 2010 thâu tóm hoàn toàn công ty này.
Cũng trong năm 2010, VNM đã nhận chuyển nhượng 100% vốn cổ phần từ Công ty TNHH F&N (tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore để xây nhà máy chế biến sữa bột và bột dinh dưỡng có công suất 54.000 tấn/năm) và góp 12,5 triệu USD chiếm 19,3% vào Công ty TNHH Miraka tại New Zealand.
Cũng từ 2009-2010, VNM đã cơ cấu lại một số khoản đầu tư khác như bia, cà phê... Thực tế, đến năm 2010, VNM đã chuyển nhượng nhà máy sản xuất cà phê tại Khu công nghiệp Mỹ Phước (Bình Dương) cho Trung Nguyên với giá trị khoảng 40 triệu USD.
Hiện, trong 4 ngành mũi nhọn của mình, VNM giữ vị trí dẫn đầu ở 3 lĩnh vực. Cụ thể, với lợi thế sở hữu đến 11 nhà máy có khả năng sản xuất sữa chua, trải dài từ Bắc - Trung - Nam, Vinamilk có thể giải quyết bài toán chi phí vận chuyển và sẵn sàng phục vụ cho người tiêu dùng một cách nhanh chóng.
Đó là lý do mà Vinamilk đang chiếm đến 90% thị phần ngành sữa chua. Trong khi đó, sữa đặc cũng dễ dàng chiếm lĩnh 80% thị phần với thương hiệu sữa "Ông Thọ”. Theo số liệu phân tích từ các công ty chứng khoán về lợi thế cạnh tranh của VNM, sữa nước của VNM cũng nắm giữ 50% thị phần (con số này năm 2010 là 40,9% và năm 2008 là 21,4%) và sữa bột là gần 30%.
Nếu tính chung cho toàn bộ các sản phẩm từ sữa, VNM đang dẫn đầu với 39% thị phần. Điều này không có nghĩa VNM sẽ dừng đầu tư, đặc biệt là việc phát triển nguồn nguyên liệu sữa, vốn là điểm yếu của không chỉ VNM mà của ngành công nghiệp sản xuất sữa của Việt Nam.
Theo đó, VNM đang hướng đến xây dựng thêm 4 trang trại nuôi bò sữa tại Tây Ninh, Hà Tĩnh và Thanh Hóa với tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, nâng tổng số trang trại lên con số 9 và theo kế hoạch đến năm 2016, tổng đàn bò của VNM sẽ ở mức 28.000 con, vượt xa con số 8.200 con của năm 2012.
Như vậy, nguồn vốn đầu tư của VNM trong giai đoạn 2012-2016 cho mục tiêu mở rộng nhà máy và phát triển đàn bò ở vào khoảng 10.275 tỷ đồng.
Sabeco: Lấn lướt đối thủ ngoại
Năm 2010, Sabeco đã vượt qua mốc tiêu thụ 1 tỷ lít bia, một nỗ lực lớn của nhà sản xuất bia hàng đầu Việt Nam trước gần 30 nhãn bia nước ngoài, trong đó có những ông lớn như: APB, Carlsberg, SABMiller... Năm 2011, sản lượng tiêu thụ của Sabeco đạt 1,228 tỷ lít. Sang năm 2013, Sabeco hướng đến sản lượng 1.300 tỷ lít, tăng 3% so với 2012.
Trong số các doanh nghiệp nhà nước thực hiện lộ trình IPO, Sabeco là một cái tên được các quỹ đầu tư và những nhà sản xuất cùng ngành "ngắm" khá kỹ, trong đó có những đối thủ như Carlsberg và cả APB.
Những số liệu thống kê cho thấy, bia là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng "vượt khủng hoảng" tại thị trường Việt Nam, tức không bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế. Đồng thời, đây là ngành có tốc độ cạnh tranh rất khốc liệt.
Không ít DN đã phải "ngậm ngùi" giã từ sân chơi như việc nhà máy bia Phú Yên đã phải bán cho Masan với giá 12 triệu USD, hay bia Huda đã bị hãng bia Đan Mạch Carlsberg "nuốt chửng".
Hoặc nhãn bia Laser của Tân Hiệp Phát đã "khai tử" không lâu sau khi xuất hiện trên thị trường (năm 2003), mà nguyên nhân được xác định là do "bị chặn" các đường phân phối và định vị sai phân khúc; hay trường hợp "bia kiểu Úc" của Fosters cũng không trụ nổi ở thị trường Việt Nam.
Dù mới đây, thị trường đón thêm tên tuổi hàng đầu thế giới là Anheuser-Busch InBev, nhưng rõ ràng, với mức độ "trung thành thương hiệu" và thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam thì Sabeco vẫn giữ vững ngôi đầu.
Xét theo phân khúc, Sabeco đang dẫn đầu dòng bia phổ thông. Còn VBL đang giữ ưu thế thị trường ở phân khúc cao cấp với nhãn hàng Heineken. Theo Euromonitor, khoảng 80% thị phần bia Việt Nam đang nằm trong ba hãng là Sabeco, Habeco và VBL.
Cũng theo đánh giá của BMI, Carlsberg và Habeco đang chiếm giữ 33% thị phần bia Việt Nam và chủ yếu "làm mưa làm gió” ở thị trường phía Bắc; trong khi đó, khu vực phía Nam vẫn là lãnh địa của Sabeco.
Hiện, Sabeco đang nắm 33% thị phần bia Việt Nam và hai con "át chủ bài" của Sabeco vẫn là bia Sài Gòn và bia 333. Cũng theo BMI, để bứt phá trước sự bám đuổi của các đối thủ ngoại, từ năm 2008, Sabeco đã tăng cường các khoản đầu tư cho việc mở rộng công suất nhà máy.
Cụ thể, Sabeco đã tăng sản lượng sản xuất lên 21% nhờ vào việc xây dựng nhà máy bia với công suất 50 triệu lít/năm tại Ninh Thuận năm 2010, sau khi xây dựng nhà máy 200 triệu lít/năm tại Củ Chi (TP.HCM) vào tháng 3/2008.
Riêng trong năm 2009, Sabeco đã hoàn thành ít nhất 6 nhà máy sản xuất bia: Nhà máy Bia Sài Gòn - Bạc Liêu (công suất 30 triệu lít/năm), Nhà máy Bia Sài Gòn - Hà Nội (công suất 90 triệu lít/năm)... Cũng trong năm này, Sabeco đã tăng 21 bậc trong nhóm các tập đoàn sản xuất bia lớn nhất thế giới (đứng thứ 33).
Cũng từ thời điểm này, doanh thu bán hàng của Sabeco liên tục gia tăng, từ 14.956 tỷ đồng năm 2009 đã đạt hơn 24.332 tỷ đồng (khoảng 1,2 tỷ USD), tăng 13% so với cùng kỳ năm 2010. Không dừng lại ở đó, cũng từ năm 2009, công ty này đã tăng cường xuất khẩu bia sang châu Âu, Nhật Bản, Đài Loan, Úc và Campuchia...

Thú vị với việc Dunkin’ Donuts đã đến

Theo ông, Việt Nam là nước đứng đầu về sản xuất cà phê Robusta trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, xu hướng giới trẻ thưởng thức cà phê Arabica, cà phê đá xay đang ngày càng tăng. Dunkin’ Donuts lại có hơn 10 loại cà phê truyền thống từ hạt Arabica nguyên chất. Và ông cho rằng cà phê Dunkaccino với hương vị riêng của Dunkin’ Donuts sẽ thỏa mãn được khách hàng là thanh niên.
Sau chưa đầy 1 năm vào Việt Nam, Starbucks đã phát triển được 3 cửa hàng. Thế nhưng, trái ngược với không khí ồn ào từ cửa hàng đầu tiên, việc khai trương cửa hàng thứ ba lại diễn ra khá im ắng.
Lĩnh vực cốt lõi của Dunkin’ Donuts là bánh rán. Nhưng liệu họ có marketing được sự khác biệt của nó hay không.
Và có lẽ một số doanh nhân đang mừng thầm. Phải chăng thương hiệu cà phê ngoại đã không còn sức hút và miếng bánh thị trường cà phê tại Việt Nam vẫn còn quá nhỏ?
Tuy nhiên, đối với một số nhà đầu tư, thị trường cà phê Việt Nam bao giờ cũng hấp dẫn. Sau Starbucks, một thương hiệu cà phê khác - cũng khá nặng ký - đã bắt đầu thâm nhập thị trường Việt Nam. Đó là Dunkin’ Donuts.
> Giải mã bí quyết thành công của Starbucks
> Tôi không chạy theo Starbucks
> 
Tôi cố tình bắt chước Starbucks đấy
> Starbucks gọi, sao Highlands chưa trả lời?
> 
Trung Nguyên gửi thông điệp gì cho Starbucks?
Thị trường cà phê Việt Nam tiếp tục nóng
Dunkin’ Donuts là một trong những chuỗi cà phê và bánh ngọt hàng đầu thế giới và nằm trong top 10 thương hiệu F&B (thức ăn và đồ uống) được yêu thích nhất tại Mỹ. Theo 2 công ty nghiên cứu thị trường của Mỹ NPD và CREST, Dunkin’ Donuts đã dẫn đầu thị trường cà phê Mỹ với hơn 1,7 tỉ cốc cà phê được bán ra mỗi năm.
Dunkin’ Donuts là đối thủ nặng ký nhất của Starbucks tại Mỹ. Hiện nay, Dunkin’s Donuts đã có hơn 12.000 cửa hàng tại 32 nước.
Tại Việt Nam, theo Dunkin’ Donuts, đơn vị nhận nhượng quyền là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dịch vụ Thực phẩm & Giải khát Việt Nam (VFBS) thuộc Tập đoàn Imex Pan Pacific do ông Jonathan Hạnh Nguyễn làm Chủ tịch.
Không tiết lộ chi phí nhượng quyền vì đã cam kết với VFBS, nhưng theo ông John Vurughese, Phó Chủ tịch Toàn cầu của Dunkin’ Brands Group, tiêu chuẩn chọn đối tác của Dunkin rất khắt khe. Ngoài tài chính, đối tác phải cho thấy kinh nghiệm trong việc quản lý, vận hành chuỗi nhà hàng.
“VFBS đã chứng minh được với Dunkin’ Donuts về khả năng tổ chức khi triển khai các thương hiệu lớn khác như Burger King, Popeyes Chicken và Domino’s Pizza. Và đó là lý do chúng tôi chọn họ”, ông John cho biết.
Ông cũng cho biết VFBS sẽ mở cửa hàng Dunkin’ Donuts đầu tiên tại đường Nguyễn Đức Cảnh, quận 7, TP.HCM vào giữa tháng 11 và cũng trong tháng này họ sẽ mở cửa hàng thứ hai tại đường Phan Xích Long, quận Phú Nhuận.
“Cạnh tranh trong kinh doanh là chuyện đương nhiên, nhưng thị trường của ngành này còn rộng, tiềm năng lớn vì rất nhiều người Việt Nam thích uống cà phê”, ông John trả lời như thế cho câu hỏi tại sao lại quyết định đưa Dunkin’ Donuts vào Việt Nam.
Trên thực tế, cạnh tranh gay gắt trên thị trường cà phê đã khiến một số doanh nghiệp phải co gọn lại như Gloria Jean’s Coffees, nhưng có những thương hiệu lại đẩy mạnh phát triển. The Coffee Bean & Tea Leaf là ví dụ.
Coffee Bean đang dùng chiến lược thuê những mặt bằng đắc địa càng nhanh càng tốt. Họ đã chiếm hết được một số tòa nhà đẹp, những đoạn đường giao thông thuận tiện, dù không phải cửa hàng nào cũng đạt kết quả tốt.
Trong khi đó, theo ông Robert Trần, Tổng Giám đốc trường kinh doanh Robenny, Starbucks lại đi theo hướng đặt mục tiêu lợi nhuận của từng cửa tiệm trước khi mở thêm cửa hàng khác.
Và dường như Starbucks đang thành công với chiến lược này. Một nguồn tin cho biết, với cửa hàng đầu tiên tại khách New World, mỗi ngày Starbucks thu được khoảng 120 triệu đồng, trong khi chi phí mặt bằng là 35.000 USD/tháng (hơn 700 triệu đồng). Ở cửa hàng thứ hai trên đường Nguyễn Du, doanh thu mỗi ngày khoảng 40 triệu đồng, trong khi chi phí mặt bằng là 14.000 USD/tháng (hơn 280 triệu đồng).
Cửa thắng nào cho Dunkin’ Donuts?
Mặc dù là thương hiệu nổi tiếng, nhưng trước sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường cà phê Việt Nam, Dunkin’ Donuts sẽ tìm cửa thắng bằng cách nào?
“Chiến lược sản phẩm của chúng tôi là C+1 (cà phê Arabica + bánh rán hoặc sandwich, bánh doughnut...) sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh cho Dunkin’ Donuts,” ông John cho biết.
Theo ông, Việt Nam là nước đứng đầu về sản xuất cà phê Robusta trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, xu hướng giới trẻ thưởng thức cà phê Arabica, cà phê đá xay đang ngày càng tăng. Dunkin’ Donuts lại có hơn 10 loại cà phê truyền thống từ hạt Arabica nguyên chất. Và ông cho rằng cà phê Dunkaccino với hương vị riêng của Dunkin’ Donuts sẽ thỏa mãn được khách hàng là thanh niên.
Theo ông Robert Trần, lĩnh vực cốt lõi của Dunkin’ Donuts là bánh rán, tương đối ngon. Nhưng điều quan trọng là liệu họ có marketing được sự khác biệt của bánh rán của mình hay không.
“Khác biệt của họ là bánh rán, nhưng người Việt sẽ không xem bánh rán là 1 phần của cuộc sống như người Mỹ hay Canada. Tại Việt Nam, thương hiệu Dunkin’ Donuts cũng chưa được nhiều người biết đến”, ông Robert Trần nhận định.
“Đó là một trong những thách thức của khi Dunkin’ Donuts vào Việt Nam”, ông John thừa nhận.
Ngoài chiến lược sản phẩm, ông John cho biết Dunkin’ Donuts sẽ mở 2 cửa hàng ở ngoài trung tâm TP.HCM và khách hàng họ nhắm tới là nhân viên văn phòng. Với chiến lược này, có lẽ cũng không khó hiểu khi Dunkin’ Donuts sử dụng chiến lược giá thấp tại thị trường Việt Nam. Theo tìm hiểu giá bán của Dunkin’ Donuts dự kiến bằng khoảng 70% của Starbucks.

Chia sẻ với bạn về vàng trang sức: Cầm vàng mà đánh rơi vàng

Điều này cũng thấy rõ tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam 2013 (VIJF) diễn ra từ 7 - 11/11. Trong khi các DN của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM vì khó khăn không tham gia VIJF thì có đến 30 DN đến từ Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Ấn Độ đã có mặt tại hội chợ. Và dĩ nhiên là ngoài việc bán hàng, các DN này cũng đang tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác.
Rục rịch xâm nhập
Tại nhiều nước trong khu vực, vàng trang sức luôn mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu vàng trang sức của Thái Lan đạt bình quân khoảng 3 tỷ USD/năm, Ấn Độ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD... Với cơ cấu dân số trẻ và đông, Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ nữ trang đầy tiềm năng.
Ước tính, mỗi năm, Việt Nam chi khoảng 3,5 tỷ USD để mua vàng và trang sức. Ông Cao Xuân Lãnh, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng Bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), cho rằng, nhu cầu vàng trang sức ở Việt Nam rất lớn, với tốc độ phát triển bình quân 20 - 25%/năm.
Sức hút từ tiềm năng thị trường cộng với việc Việt Nam sắp mở cửa thị trường vàng là điều kiện để nhà đầu tư ngoại quan tâm. Từ đầu năm đến nay đã có 5 đoàn doanh nghiệp (DN) của Pháp, Brazil, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia đến TP.HCM tìm hiểu thị trường vàng Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM, cho biết, những DN này không đến tìm nhà phân phối mà muốn liên doanh, liên kết với các DN trong nước để thành lập công ty sản xuất vàng trang sức.
Điều kiện làm đối tác cho những DN này chỉ là cơ sở sản xuất có lực lượng tay nghề tốt. Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm cho thị trường trong nước, liên doanh sẽ sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của nhà đầu tư ngoại để xuất về nước họ.
Không chỉ làm việc với các hội ngành nghề, hiện có nhiều DN nước ngoài đã tiếp xúc trực tiếp với DN trong nước bàn về việc hợp tác. Một số DN đang trong quá trình tìm hiểu về đất đai để mua và xây dựng nhà xưởng.
Một số khác đã đầu tư, mở văn phòng đại diện và bước đầu nhờ các đối tác trong nước làm đại diện. Trước mắt, khi liên doanh chưa sản xuất, các nhà đầu tư sẽ đưa sản phẩm vào Việt Nam kinh doanh.
Ông Dưng cho biết, DN của ông với thương hiệu vàng Mỹ Linh Ngân cũng đã được các nhà đầu tư đặt vấn đề liên kết nhưng ông chưa tính đến phương án này.
70%
Hiện có khoảng 70% trong tổng số gần 3.000 DN kinh doanh vàng tại TP.HCM đã ngừng sản xuất, giải thể.
Mới đây, ông đã dẫn một số DN đến Đồng Nai, giúp họ tìm đất để mở nhà máy. Tuy nhiên, hầu hết các DN muốn đầu tư tại Việt Nam đều muốn có cơ sở sản xuất tập trung ở khu vực TP.HCM.
Điều này cũng thấy rõ tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam 2013 (VIJF) diễn ra từ 7 - 11/11. Trong khi các DN của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM vì khó khăn không tham gia VIJF thì có đến 30 DN đến từ Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Ấn Độ đã có mặt tại hội chợ. Và dĩ nhiên là ngoài việc bán hàng, các DN này cũng đang tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác.
Nguy cơ mất thị trường
Hiện tại, trong khi chưa có liên doanh nào chính thức ra mắt nhưng sản phẩm nước ngoài đã bắt đầu "đổ bộ” vào Việt Nam. Trong mấy tháng trở lại đây, tại các trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn TP.HCM tràn ngập các dòng vàng nữ trang xuất xứ từ Hồng Kông, Singapore, Đài Loan và đặc biệt là Trung Quốc.
Chưa biết vàng nữ trang này nhập khẩu vào thị trường bằng cách nào nhưng được mới chào các DN, trong nước làm nhà phân phối. Và chỉ cần ứng trước một số tiền nhỏ là các đại lý đã có thể trở thành nhà phân phối cho họ. Khi không bán hết sản phẩm, các đại lý có thể trả lại bất cứ lúc nào.
Hiện nay, cả nước có khoảng 12.000 đơn vị sản xuất, gia công vàng trang sức nhưng chỉ có rất ít công ty đầu tư lớn, sản xuất công nghiệp như DOJI, PNJ, SJC... đủ sức cạnh tranh với hàng nước ngoài. Bởi, hiện nay ngành nữ trang Việt Nam đang vấp phải rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh sức mua giảm sút, DN trong nước còn chịu những tác động ở khâu đầu vào như nguyên liệu không được nhập mà phải mua trong nước với giá cao, không được vay vốn để sản xuất kinh doanh vàng trang sức.
Ngoài ra, sự tràn ngập của vàng nữ trang Trung Quốc và các nước đã khiến cho các DN sản xuất trong nước vốn đã khó khăn nay càng thêm bế tắc. Hiện có khoảng 70% trong tổng số gần 3.000 DN kinh doanh vàng tại TP.HCM đã ngừng sản xuất, giải thể.
Trước áp lực nữ trang ngoại, các chuyên gia cho rằng, nếu không khéo, DN trong nước sẽ mất dần tính cạnh tranh với DN nước ngoài có lợi thế về thuế, công nghệ, kinh nghiệm chế tác đều hơn hẳn Việt Nam.
Bởi, dù Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển ngành công nghiệp trang sức, đặc biệt là xuất khẩu nhưng do thuế xuất khẩu vàng trang sức hàm lượng từ 80% trở lên còn cao (đến 10%), nên đồ trang sức Việt Nam khó cạnh tranh với các nước như Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc. Những nước này đã áp dụng thuế suất xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ ở mức 0% từ nhiều năm nay.
Nhưng điều mà các DN lo lắng hơn cả là áp lực khi mở cửa hoàn toàn thị trường vàng. Theo cam kết WTO, AFTA, năm 2015, Việt Nam sẽ bắt đầu mở cửa thị trường vàng và đến năm 2018, khi thuế suất nhập khẩu sẽ giảm bằng 0% thì nữ trang nước ngoài theo đường chính ngạch sẽ tràn ngập thị trường.
Và khi đó, các DN ngoại cũng không cần phải liên kết với DN trong nước để phân phối mà đưa hàng chính ngạch về bán. Còn số DN đã mở nhà máy với tiềm lực tài chính mạnh sẽ mở rộng đầu tư tại Việt Nam. "Và nếu cứ cái đà này thì DN trong nước sẽ trở thành đơn vị gia công cho nước ngoài", ông Dưng lo lắng.

Cùng tìm hiểu về năng lượng tái tạo: Trước lực cản EVN

Bên cạnh đó, Chính phủ còn có các chính sách hỗ trợ giá thị trường cho năng lượng tái tạo. Bắt đầu từ năm 2008, Bộ Công Thương hằng năm đều ban hành biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo (chi phí tránh được là chi phí sản xuất 1kWh của tổ máy phát có chi phí cao nhất trong hệ thống điện quốc gia).
Nhu cầu lớn
Việt Nam là nước có nhu cầu tiêu thụ năng lượng tương đối lớn với khoảng 39,9% tổng năng lượng tiêu thụ thuộc về sản xuất công nghiệp, 33,4% tổng năng lượng tiêu thụ phục vụ nhu cầu dân sinh và 22% phục vụ nhu cầu giao thông vận tải.
Đến năm 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng khoảng 6 lần so với năm 2010 và dự kiến phải nhập khẩu than cho sản xuất điện sau năm 2015.
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 mới đây đề ra ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng tái tạo gồm: thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và sinh khối.
Theo đó, tỷ trọng điện năng sản xuất từ các nguồn tái tạo sẽ chiếm 5,6% tổng công suất nguồn điện và đáp ứng 4,5% tổng nhu cầu điện vào năm 2020. Đến năm 2030, tỷ trọng này sẽ tăng lên 9,4% tổng công suất nguồn điện và đáp ứng 6% tổng nhu cầu về điện.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Chính phủ đưa ra nhiều chính sách ưu đãi toàn diện cho các doanh nghiệp phát triển năng lượng tái tạo. Đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo đòi hỏi lượng vốn lớn, khiến nhà đầu tư phải chịu rủi ro cao.
Vì vậy, Chính phủ đưa ra các chính sách tập trung vào hỗ trợ nguồn vốn và chi phí vay vốn cho doanh nghiệp với cơ chế tài trợ đầu tư, hỗ trợ lãi suất, bảo đảm và bảo hiểm tín dụng với mức phí ưu đãi.
Tính đến nay, nhà máy điện gió tại Bạc Liêu là một ví dụ về dự án đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo tiếp cận được nguồn vốn từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ thông qua sự bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam. Dự án này đã vay được 70% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 1 và dự kiến sẽ được vay 85% tổng vốn khi sang giai đoạn 2.
Dự án phát triển năng lượng tái tạo (REDP) do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ và Bộ Công Thương điều phối thực hiện trong những năm gần đây cũng đã cung cấp tổng số tiền vay lên tới 78 triệu USD với lãi suất ưu đãi cho 9 dự án thủy điện nhỏ công suất dưới 30MW.
Mới đây, Chính phủ tiếp tục khẳng định sự ủng hộ đối với năng lượng tái tạo khi ban hành Nghị định số 38, trong đó chỉ rõ năng lượng tái tạo là một trong hai loại hạ tầng năng lượng được ưu tiên tiếp cận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
Dự án năng lượng tái tạo cũng được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư để xây dựng ban đầu cũng như khi mở rộng sản xuất. Ngoài ra, sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải cũng nằm trong số các lĩnh vực được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm.
Trong khi đó, mức thuế suất đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí - các nguồn nguyên liệu hóa thạch chính sử dụng làm năng lượng hoặc sản xuất năng lượng tại Việt Nam - nằm ở mức cao hơn hẳn, trong khoảng từ 32% đến 50% tùy từng dự án.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn có các chính sách hỗ trợ giá thị trường cho năng lượng tái tạo. Bắt đầu từ năm 2008, Bộ Công Thương hằng năm đều ban hành biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo (chi phí tránh được là chi phí sản xuất 1kWh của tổ máy phát có chi phí cao nhất trong hệ thống điện quốc gia).
Biểu giá chi phí tránh được giúp các dự án thủy điện nhỏ bán được điện với giá tương đương với các nhà máy điện lớn khác đang sử dụng các nguồn nhiên liệu không tái tạo.
Đối với các nhà máy sản xuất điện gió, giá bán điện của các nhà máy điện gió nối lưới được quy định là 1.614 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 7,8 US cent/kWh), trong đó Chính phủ hỗ trợ trực tiếp 207 đồng/kWh (tương đương 1 US cent/kWh), bên mua điện chi trả phần còn lại.
Điểm nghẽn EVN
Tuy Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhưng các nhà đầu tư vẫn tỏ ra ngần ngại với lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Việt Nam do điều mà họ quan tâm nhất vẫn chưa được giải quyết, đó là cơ chế quản lý ngành điện còn thiếu tính thị trường.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hiện vẫn là người mua buôn duy nhất trên thị trường ở mức giá điều hành cứng nhắc khiến các nhà đầu tư không thể chủ động về nguồn tiêu thụ và giá cả đầu ra của mình.
Bên cạnh đó, các chính sách liên quan đến năng lượng tái tạo được ban hành quá nhiều bởi các cơ quan khác nhau dẫn tới chồng chéo và đôi khi mâu thuẫn trong chính sách, không tạo nên khung pháp lý thống nhất cho lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Một điểm quan trọng là EVN vẫn mua điện từ các dự án năng lượng tái tạo ở mức giá thấp hơn giá thành, trong khi trợ giá của Chính phủ chỉ bù đắp được một phần hạn chế. Điều này khiến các nhà đầu tư nản lòng vì giá bán và doanh thu quá thấp so với đầu tư vào các ngành khác.
Thêm vào đó, thủ tục đầu tư và vận hành các dự án năng lượng tái tạo rất phức tạp với sự tham gia của quá nhiều cơ quan chức năng khiến nhà đầu tư tốn rất nhiều thời gian và chi phí.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo nhờ tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và điều kiện khí hậu. Nhu cầu về năng lượng của Việt Nam cũng rất lớn và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới và gây áp lực cho các doanh nghiệp lớn trong ngành năng lượng hiện nay.
Vì vậy, phát triển năng lượng tái tạo là giải pháp đúng đắn phù hợp với xu thế toàn cầu nhưng Chính phủ Việt Nam phải xây dựng cơ chế quản lý phù hợp và ban hành các chính sách thiết thực để huy động hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước cho phát triển nguồn năng lượng này trong thời gian tới.

Khám phá sự việc lịch Tết lên kệ

Trong khi đó, năm nay, trên mỗi tờ lịch của Công ty Trần Chung Á Châu - ATC đều phủ nền bằng những hoa văn giống giấy dó nghệ thuật và những bức tranh thủy mặc, tranh dân gian Đông Hồ. Áo block lịch được in metalize, bìa treo làm bằng ván MDF ép vân và in metalize, hộp in metalize ép vân. Bộ lịch đựng trong túi giấy kzaf 201gsm và in nhũ.
Đến thời điểm này, dù đã vào mùa lịch nhưng rất nhiều nhà xuất bản, đơn vị làm lịch đều than, do kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp giảm bớt chi phí quảng cáo nên đơn đặt hàng lịch năm nay giảm hơn năm trước từ 20 - 30%, trong khi các đơn vị sản xuất lịch đều phải tăng chi phí sản xuất, đầu tư để tăng chất lượng, mẫu mã, bao bì, giấy.
Theo các doanh nghiệp sản xuất lịch, mùa lịch năm 2014, lượng lịch block sẽ không vượt quá con số 12 triệu. Ông Nguyễn Hữu Cứ, Phó giám đốc Công ty Hương Trang cho biết, số lượng lịch đặt hàng của các công ty năm nay tại Hương Trang giảm gần 50%.
Còn Công ty Trí Đức cho biết, chỉ tính riêng Ngân hàng ACB, năm ngoái đặt gia công gần 600.000 block lịch, năm nay giảm còn 160.000, Vietin Bank chi nhánh 1 năm ngoái đặt 14.000 block năm nay chỉ còn 4.000.
Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tăng của khách hàng và để cạnh tranh, hầu hết các công ty sản xuất lịch đều tăng chi phí đầu tư.
Ông Trần Viết Thu, Giám đốc Nhà sách Nguyên Bình cho biết, năm nay các bộ lịch của Nhà sách đều được đầu tư công phu hơn mọi năm, đơn cử các mẫu lịch đều được chọn lọc hình ảnh với giá mua tăng từ 800.000 đồng/tấm hình lên 1 triệu hoặc 1,2 triệu đồng.
Trong khi đó, năm nay, trên mỗi tờ lịch của Công ty Trần Chung Á Châu - ATC đều phủ nền bằng những hoa văn giống giấy dó nghệ thuật và những bức tranh thủy mặc, tranh dân gian Đông Hồ.
Áo block lịch được in metalize, bìa treo làm bằng ván MDF ép vân và in metalize, hộp in metalize ép vân. Bộ lịch đựng trong túi giấy kzaf 201gsm và in nhũ.
Vì vậy, chi phí đầu tư cũng tăng thêm 25% so với năm ngoái nhưng giá bán vẫn không thay đổi, vẫn ở mức giá 290.000đ/bộ block đại (14cm x 40cm), 390.000đ/block siêu đại (20cm x 48cm).
Ông Nguyễn Hữu Cứ, Công ty Hương Trang, cho biết thêm, lịch là một sản phẩm không chỉ để xem ngày tháng mà còn mang tính nghệ thuật, vì vậy năm nay Công ty tập trung vào các chủ đề hương sắc Việt Nam, một thoáng quê hương...
Đặc biệt, để tạo sự mới lạ, Hương Trang tăng chi phí đầu tư lên 25% để phối hợp với Công ty Việt Hoa thiết kế bộ lịch năm 2014 gồm bộ lịch: Ngựa vui, Kim mã phát tài... Tất cả hình ảnh trong bộ lịch của Hương Trang đều được vẽ tay hoặc dùng tranh lụa.
Tương tự, Công ty ATC cũng phối hợp cùng Nhà xuất bản Hồng Đức đưa ra thị trường bộ lịch block nghệ thuật 2014. Lấy ý tưởng từ nghệ thuật thư pháp, sản phẩm được thiết kế độc đáo và mang ý nghĩa nhân văn, hướng con người đến với những giá trị truyền thống tốt đẹp đang dần bị mai một trong cuộc sống hiện đại.
Giám đốc Công ty ATC cho biết: "Bên cạnh chức năng chính là xem ngày tháng, chúng tôi quan niệm mỗi tờ lịch còn là một bức tranh thư pháp để trang trí phòng khách. Vì vậy, với bộ lịch 2014, điểm khác biệt của ATC là luân phiên cho 7 ngày trong tuần, ngay trung tâm tờ lịch in các chữ "trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" được phác họa trên nét vẽ thư pháp và sắp xếp tuần tự đã tạo nên một "thú chơi" tao nhã.
Bên cạnh đó là những câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn, lời hay ý đẹp với mục đích khuyên con người sống tốt hơn và hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; tạo ra một sự sâu lắng giữa dòng chảy của thời gian. Đó chính là giá trị, là tác động của văn hóa và nhân văn...".
Mặc dù các nhà sản xuất lịch than thở, nhưng nhận định về sức mua của thị trường lịch Tết năm 2014, bà Phạm Thị Hóa, Trưởng Phòng Kinh doanh Nhà sách Fahasa lại lạc quan cho rằng, lịch được xem là một nét văn hóa của người Việt cho nên gia đình Việt nhà nào cũng phải có một cuốn lịch, tờ lịch để trang trí. Dự báo, năm nay sức mua sẽ tăng khoảng 10 - 30%. Và sức mua sẽ có khả năng tăng cao nhất vào thời điểm gần Tết Dương lịch.

Chia sẻ với bạn câu chuyện làm thuê trên sân nhà

Vận tải hàng hóa bằng đường bộ đã và đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt về giá. Ông Đỗ Hà Nam cho biết để giảm cước, đa số DN chọn cách chở gấp 2-3 lần trọng tải cho phép và “làm luật” để đi đường. Những DN muốn làm ăn chân chính không có chi phí trả trên đường, cũng không có khả năng cạnh tranh về giá cước thì không thể tồn tại.
Khi các doanh nghiệp nội còn mãi đá nhau, sân chơi logistics hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp ngoại. 

Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Sài Gòn
Những bất cập trong quy hoạch phát triển logistics (kho vận) và cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ của doanh nghiệp (DN) trong ngành, sự thiếu liên kết giữa DN xuất nhập khẩu và logistics là những lực cản khiến DN Việt Nam khó thoát kiếp làm thuê. Đó là nội dung được thảo luận tại diễn đàn “Logistics: Nâng cao năng lực cạnh tranh từ liên kết DN xuất nhập khẩu và logistics” diễn ra ngày 15/11 tại TP HCM.
Thiếu liên kết
Việt Nam có khoảng 1.200 DN hoạt động trong lĩnh vực logistics, chủ yếu tập trung tại TP HCM và Hà Nội. Ông Đỗ Xuân Quang - Chủ tịch Hiệp hội DN Dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Liên đoàn Các hiệp hội giao nhận ASEAN - cho biết trừ các DN nhà nước được cổ phần hóa, các DN trong lĩnh vực này có quy mô nhỏ và vừa với vốn điều lệ bình quân 4-6 tỉ đồng.
Hiện các DN logistics trong nước hoạt động manh mún, chưa chuyên nghiệp, cạnh tranh chủ yếu về giá và chủ yếu gia công cho nước ngoài, đóng vai trò nhà thầu phụ. 25 DN logistics nước ngoài đang chiếm 70%-80% thị phần.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Anh Tuấn, các DN logistics Việt Nam chưa tìm được tiếng nói chung với DN xuất nhập khẩu, chưa tạo ra sự gắn bó đầy đủ, thúc đẩy phát triển chung cho cộng đồng DN Việt Nam. Điều này dẫn đến việc nhiều DN xuất nhập khẩu trong nước phải chịu các loại phí cao, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, tập quán mua CIF, bán FOB của các DN xuất nhập khẩu Việt Nam tồn tại khá dai dẳng, bắt nguồn từ thực trạng chủ yếu nhập máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thô, sơ chế nên các đối tác thường có ưu thế trong đàm phán hợp đồng và giành quyền vận tải, bảo hiểm.
Ở góc độ DN, ông Đỗ Hà Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Intimex, cho biết thực trạng đáng buồn là các DN logistics trong nước quy mô nhỏ, manh mún nhưng chưa biết liên kết mà kinh doanh kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành hợp đồng.
DN trong nước chủ yếu hạ giá thuê container khiến các DN trong nước bị thiệt, còn DN nước ngoài là những chủ tàu thì “ngư ông đắc lợi”. Trong khi các DN trong nước mãi đá nhau thì các tập đoàn hàng hải lớn như APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics... đã và đang xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Ví dụ, khi nhà máy Canon ở Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam, Dragon Logistics tham gia đấu thầu. DN thắng thầu là DN chào dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy vận tải biển bù lại. Với cách làm này, các DN không có tàu biển phải chào thua.
Nhiều bất cập
Tỉ trọng logistics/GDP cao gấp đôi thế giới 
Ngành logistics có nhiều tiềm năng phát triển với 90% hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển, tốc độ tăng trưởng hàng container là 17%/năm. Hàng container dự báo qua cảng biển Việt Nam đến năm 2015 đạt khoảng 12 triệu TEU, đến 2020 đạt hơn 17,5-19,5 triệu TEU và đến 2030 đạt 35-40 triệu TEU. Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỉ trọng logistics/GDP Việt Nam tương đối cao: ở mức 25%, gấp 2-2,5 lần so với thế giới (ở Trung Quốc chỉ 17,5%, Singapore 9%). Tỉ lệ thuê ngoài logistics còn rất thấp, chỉ 25%-30%, trong khi của Trung Quốc là 63,3%, Nhật Bản và các nước châu Âu, Mỹ là 40%.
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen, phản ánh hoạt động logistics còn nhiều bất cập, làm tăng chi phí cho DN. Hoa Sen có 2 nhà máy đặt tại Bình Dương và Khu Công nghiệp Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu). Hiện mỗi tháng Hoa Sen xuất trên 1.000 container hàng với khoảng 20.000-30.000 tấn.
Mỗi khi xuất hàng, công ty phải chở hàng về Bình Dương đóng container rồi chở ngược về cảng Cát Lái để xuất khẩu. Nếu muốn đóng hàng trực tiếp tại Phú Mỹ thì phải kéo container rỗng từ TP HCM về Phú Mỹ, đóng hàng xong thì chuyển container về cảng Cát Lái để xuất.
Đây là sự lãng phí vô cùng lớn khi cảng Cái Mép hoàn toàn có đủ điều kiện cho các tàu trọng tải lớn cập cảng.
Trong khi đó, ban quản lý cảng Cái Mép, Cát Lái và các hãng tàu hoàn toàn có thể phối hợp để bố trí các container rỗng cũng như các tuyến hoạt động tại khu vực cảng Cái Mép để tạo thuận lợi cho các DN xuất hàng qua cảng Cái Mép, vừa giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động và giảm ùn tắc, quá tải cho cảng Cát Lái.
Ở thị trường nội địa, vận tải nội địa chủ yếu là đường bộ, chi phí rất cao. Tính ra, chi phí vận chuyển hàng ra Đà Nẵng gấp rưỡi hoặc gấp đôi ra Hải Dương, Hưng Yên.
Vận tải hàng hóa bằng đường bộ đã và đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt về giá. Ông Đỗ Hà Nam cho biết để giảm cước, đa số DN chọn cách chở gấp 2-3 lần trọng tải cho phép và “làm luật” để đi đường. Những DN muốn làm ăn chân chính không có chi phí trả trên đường, cũng không có khả năng cạnh tranh về giá cước thì không thể tồn tại.
Lý giải những hạn chế hiện tại, ông Bùi Thiên Thu - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải - cho rằng mạng lưới giao thông vận tải hiện còn thiếu, yếu, nguồn vốn đầu tư cho kết nối hạ tầng dàn trải; dịch vụ cảng chưa đáp ứng yêu cầu, hệ thống cảng đường thủy nội địa công nghệ và thiết bị khai thác còn lạc hậu; hệ thống về phân phối, kho bãi chưa đồng bộ… nên chưa đáp ứng được chuỗi hoạt động logistics.
Theo ông Đỗ Xuân Quang, một số quy định luật pháp về logistics không phù hợp và không tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bền vững. Ngoài ra, sự không thống nhất trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia quản lý dịch vụ logistics cũng gây khó khăn cho lĩnh vực này phát triển.

Khám phá tình trạng kiếm tiền triệu, đốt tiền tỷ

Đó là chưa kể khi đầu tư, công nghệ không phù hợp với thực tế sản xuất lại phải hủy bỏ, rất tốn kém. Đồng Nai có hơn 5.000 DN lớn, nhỏ, năng lượng tiêu thụ cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 70% tổng năng lượng tiêu thụ của toàn tỉnh. Thế nhưng, sau hơn 3 năm triển khai các chương trình TKNL, chỉ có 15 DN ứng dụng.
Đút tiền vào lò hơi
Những con số chi phí năng lượng khổng lồ của DN Việt Nam cho thấy một mặt khác của khả năng cạnh tranh kém cỏi khi giá thành, chi phí sản xuất bị tiền điện, tiền dầu... chiếm phần lớn giá thành.
Theo tính toán, để vận hành 5 dây chuyền giết mổ tổng công suất 2.700 con heo, bò/ca và 2 nhà máy chế biến thực phẩm công suất 28.000 tấn/năm, mỗi tháng, Vissan phải dùng đến 100.000 lít dầu FO, 500.000m3 khối nước và hàng trăm ngàn kWh điện.
Nếu tính 18.800 đồng/ lít dầu như hiện nay thì mỗi tháng, Vissan phải tốn đến 1,88 tỷ đồng cho riêng khoản chất đốt vận hành các lò hơi.
Tuy không phải là DN lớn trong lĩnh vực này nhưng với việc sử dụng 2 lò hơi (1 lò 6 tấn và 1 lò 5 tấn) để phục vụ cho các công đoạn sản xuất như hấp mì, gia nhiệt dầu, chiên mì..., mỗi năm, Công ty Lương thực Thực phẩm Colusa - Miliket cũng tiêu tốn 995.000 kWh điện, 2.930 tấn than cho sản xuất với tổng chi phí gần 5 tỷ đồng.
Trong khi đó, với 3 nhà máy sản xuất thủy sản chế biến, mỗi tháng, Công ty Sài Gòn Food cũng tốn đến 1,3 tỷ đồng cho tiền điện, 400 triệu đồng cho chi phí chất đốt. Tính chung, mỗi ngày, Sài Gòn Food phải mất đến gần 57 triệu đồng cho phần năng lượng phục vụ sản xuất...
10 - 15%
Trong lúc nhu cầu điện tăng trưởng trung bình 10 - 15%/năm thì mức lãng phí điện cũng vô cùng lớn. Theo Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC), mức lãng phí điện là từ 10 - 50%.
Những con số cụ thể trên cho thấy rõ hơn về số nhiên liệu khổng lồ mà nhiều DN sử dụng. Theo ông Nguyễn Văn Long, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), đa số các ngành công nghiệp của Việt Nam là những ngành thuộc loại tiêu tốn nhiều năng lượng.
Cường độ sử dụng năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5-1,7 lần, tức để làm ra cùng một giá trị sản phẩm như nhau, Việt Nam phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5-1,7 lần so với hai nước trên.
Ông Xavier Denoly, Tổng giám đốc Schneider Electric Việt Nam - Campuchia, cũng cho rằng, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam đang tăng rất nhanh, trong đó, nhu cầu về điện chiếm phần quan trọng hơn cả. Việt Nam vốn là quốc gia giàu tài nguyên nên hiện nay, khả năng cung cấp năng lượng cho cả nước vẫn đủ.
Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch đang ngày một cạn kiệt, hệ thống nhà máy thủy điện ở Việt Nam đã hoạt động hết công suất, trong khi nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng Mặt trời... lại không được ứng dụng nhiều.
Đến năm 2025, dự báo Việt Nam sẽ cạn kiệt dầu khí và khi đó việc phải nhập khẩu than phục vụ cho nhu cầu năng lượng trong nước là hoàn toàn có thể xảy ra.
Ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho rằng, tiết kiệm năng lượng (TKNL) không chỉ quan trọng trong thời điểm hiện nay mà nhiệm vụ trong quản lý mà mỗi lãnh đạo cần phải quan tâm. Bởi, TKNL cũng đồng nghĩa với việc tiết giảm chi phí, hạ giá thành đồng thời bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
"Phải làm thế nào để TKNL và sản xuất sạch hơn cũng như tận dụng tối đa năng lượng để sản xuất ra sản phẩm có giá thành thấp nhất. Đây là một nhiệm vụ cấp bách và phải được thực hiện liên tục trong sản xuất, kinh doanh của DN cũng như trong phát triển bền vững với môi trường", ông Mười nói.
Tiết kiệm năng lượng: Nhặt nhạnh từng đồng
Tốn tiền tỷ cho năng lượng mỗi tháng, DN cũng phải đầu tư hàng chục tỷ đồng để giảm thiểu tiêu thụ năng lượng.
Trong sản xuất thủy hải sản đông lạnh, năng lượng (điện, nước, chất đốt...) là chi phí lớn nhất. Ông Lê Quang Vũ, Phó tổng giám đốc Công ty Sài Gòn Food, cho biết, trước thực tế tiêu tốn nhiên liệu quá cao, được sự hỗ trợ của Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM, tháng 7/2013, Sài Gòn Food đã triển khai cùng lúc nhiều giải pháp TKNL như thay bóng đèn thường bằng đèn compact, vận hành máy móc vào giờ thấp điểm, thay dầu DO cho các lò hơi bằng dầu FO... Đến nay, sau 3 tháng triển khai, chi phí cho năng lượng sản xuất giảm hơn 10%.
Không chỉ kêu gọi ý thức tiết kiệm từ người lao động, năm 2012, Công ty Colusa - Miliket còn đầu tư công nghệ để TKNL một cách hiệu quả nhất. Qua quá trình khảo sát và kiểm toán thực tế cho thấy, hiệu suất lò hơi của nhà máy mới đạt 65%.
Để khai thác hết hiệu suất 2 lò hơi này, Colusa - Miliket phải thay thế một loạt thiết bị, như lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng nước nóng nhằm kiểm soát hiệu suất lò hơi, cải tạo bồn thu hồi nước ngưng tụ, biến tần kiểm soát oxy dư...
5 - 15%
DN Nhật Bản phải chi tiền với thời gian hoàn vốn trên 7 năm chỉ để cắt giảm 1% mức tiêu hao năng lượng. Ở Việt Nam, phổ biến DN có thể tiết kiệm mức 5 - 15% trong 3 năm. (Nguồn: ECC).
Sau khi lắp đặt thay thế, DN đã kiểm soát được năng lượng hơi, tiết kiệm 30% lượng than tiêu thụ, 60% điện năng cho nồi hơi, tiết kiệm được 130 triệu đồng/tháng.
Nhận thấy nhu cầu bức thiết phải TKNL, bắt đầu từ năm 2010, Công ty Vissan đã đầu tư đồng loạt các công nghệ, giải pháp TKNL cho chất đốt, điện, nước.
Trong đó, Công ty thay đèn compact tiết kiệm điện, hợp tác với DN sản xuất công nghệ năng lượng xanh dùng trấu nén thay cho dầu FO, sử dụng công nghệ tái tuần hoàn sử dụng nước...
Ông Nguyễn Ngọc An, Phó tổng giám đốc Công ty Vissan, cho biết, sau khi sử dụng trấu nén thay cho dầu FO, Công ty đã tiết kiệm 49% chi phí chất đốt, khoảng 900 triệu đồng/tháng.
Giải pháp tiết kiệm điện có nhiều hạng mục nhưng chỉ riêng hạng mục biến tần cho hệ thống bơm nước đã tiết kiệm được 136.400kWh điện/năm, làm lợi 216 triệu đồng. Lượng nước sử dụng cũng giảm từ 40.000 - 45.000m3/tháng xuống 30.000m3/tháng.
Trong tổng chi phí vận hành, kinh doanh siêu thị thì lượng điện tiêu thụ của Big C chiếm đến 30%. Để giảm chi phí này, từ năm 2010, Big C đã chú trọng đầu tư TKNL. Một loạt giải pháp TKNL được triển khai đồng loạt cùng lúc trên tất cả các siêu thị Big C.
Cụ thể, Công ty đã thay đèn huỳnh quang T8 bằng đèn huỳnh quang T5, lắp đặt hệ thống giám sát và quản lý năng lượng tại các siêu thị, bổ sung bồn trữ lạnh để tận dụng giá điện giờ thấp điểm, lắp biến tần cho máy bơm hệ thống trữ lạnh, sử dụng vật liệu vách ngăn tường 3D giữ nhiệt...
Mới nhất là dự án pin năng lượng Mặt trời theo chuẩn LEED (Mỹ) và LOTUS (Việt Nam) triển khai tại Big C Bình Dương. Dự án có kinh phí 11 tỷ đồng, mỗi năm sản xuất lượng điện năng khoảng 230MWh (tương đương 7% tổng lượng điện tiêu thụ của trung tâm), giảm phát thải 150 tấn CO2/năm. Với dự án này, Big C Bình Dương tiết kiệm được 30% điện năng tiêu thụ so với các trung tâm thương mại thông thường.
Đầu tư từ đâu?
Tiết kiệm năng lượng là lợi ích lâu dài trong cạnh tranh của DN Việt Nam. Tuy nhiên, đối với nhiều DN nhỏ, vẫn còn nhiều rào cản để nỗ lực giảm thiểu chi phí năng lượng.
Theo khảo sát mới đây của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), phần lớn DN trong Tập đoàn đang sử dụng lãng phí năng lượng do công nghệ không phù hợp, hệ thống quản lý năng lượng lạc hậu và thiếu nhận thức của người sử dụng. Nếu áp dụng những phương pháp TKNL một cách đồng bộ, DN có thể tiết kiệm được khoảng 10 - 20% chi phí năng lượng cho sản xuất.
Mặc dù chương trình TKNL đã được triển khai từ nhiều năm nay và DN cũng nhận thức đây là điều cấp thiết phải thực hiện nhưng do nhiều "rào cản" nên thực tế số DN áp dụng các công nghệ, giải pháp TKNL chưa được bao nhiêu. Theo đại diện Công ty MEET-BI, có quá nhiều yếu tố khiến DN nhỏ và vừa Việt Nam chưa đầu tư cho TKNL.
Khảo sát của MEET-BIS mới đây đối với 172 DN nhỏ và vừa Việt Nam, cho thấy, đến 69% DN cho rằng, có nhiều việc khác phải làm; 43% thiếu các thông tin đáng tin cậy; 41% lo ngại về các chi phí triển khai các biện pháp mới và 8% cho rằng, có quá nhiều thông tin, không biết đâu là giải pháp tốt nhất.
Điều này lý giải vì sao sau 5 năm có mặt tại Việt Nam, MEET-BIS đã giới thiệu các giải pháp TKNL và nước tới 3.852 DN nhỏ và vừa nhưng chỉ có 423 DN chịu đầu tư để thực hiện các giải pháp này.
Hiện nay, đa phần các DN vừa và nhỏ đã bắt đầu chương trình tiết kiệm điện bằng việc thay các thiết bị chiếu sáng, điều hòa, sử dụng hợp lý các thiết bị trong khu vực văn phòng và nhà máy sản xuất. Những hoạt động này không đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư nhưng vẫn mang lại hiệu quả đáng kể.
Tuy nhiên, muốn tiết kiệm đáng kể nguồn năng lượng sử dụng hướng đến lâu dài, các DN buộc phải đầu tư các giải pháp về công nghệ. Biết là công nghệ cũ tiêu tốn nhiều điện năng nhưng để đầu tư lại toàn bộ công nghệ, DN phải tốn nguồn vốn khá lớn.
1,5 - 1,7 lần
Qua khảo sát tại một số DN trong Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho thấy, để sản xuất 7 kg sợi (độ nhỏ bình quân NE20) tốn 4.133 đồng tiền điện, 1 mét vải tốn 653 đồng và 1 sản phẩm may (quy ra áo sơ mi) tốn 312 đồng tiền điện. Để cùng làm ra một sản phẩm như nhau, các DN Việt Nam phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5-1,7 lần so với các DN của Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia.
Trên thực tế, để ứng dụng các giải pháp TKNL nhằm giảm chi phí sản xuất, nhiều DN đã tìm đến nguồn tài chính từ các quỹ hỗ trợ nhà nước nhưng không ít DN đành bỏ cuộc vì nguồn tín dụng cho lĩnh vực này vốn đã không nhiều lại khó tiếp cận vì thủ tục rườm rà, trong khi DN lại thiếu thông tin.
Đó là chưa kể khi đầu tư, công nghệ không phù hợp với thực tế sản xuất lại phải hủy bỏ, rất tốn kém. Đồng Nai có hơn 5.000 DN lớn, nhỏ, năng lượng tiêu thụ cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 70% tổng năng lượng tiêu thụ của toàn tỉnh. Thế nhưng, sau hơn 3 năm triển khai các chương trình TKNL, chỉ có 15 DN ứng dụng.
Bà Lê Trinh Thảo, Phó giám đốc công ty Orana, DN chuyên cung cấp các loại trái cây tươi chế biến, cho biết, ngay từ năm 2002, Công ty đã ứng dụng công nghệ xử lý nước công nghệ thải bốc hơi của Đan Mạch.
Do sản phẩm phải dùng rất nhiều nước trong quá trình sản xuất trong khi, nhiệt lượng từ năng lượng mặt trời vẫn không thể làm bốc hơi nhanh chóng hết lượng nước thải, vì vậy, công ty đành sử dụng công nghệ xử lý nước thải theo phương pháp sinh học (xử lý yếm khí tự nhiên) mà các DN sử dụng phổ biến hiện nay.
Theo các chuyên gia, những đơn vị có quy mô sản xuất nhỏ khi đầu tư, nếu không nhìn thấy những lợi ích của sự đầu tư đó, sẽ không dám làm. Vì vậy, cần phải thay đổi được nhận thức của DN, đặc biệt là cấp lãnh đạo về sự cần thiết tham gia hợp đồng chia sẻ TKNL các đơn vị cung cấp giải pháp.
Ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TP.HCM, cho rằng, việc DN có thành công trong những vấn đề TKNL hay không phụ thuộc rất lớn vào ý thức của lãnh đạo DN.
Bởi, sự quyết tâm của lãnh đạo quyết định đến 50% thành công cho chương trình TKNL của DN. Để việc TKNL có hiệu quả, lãnh đạo phải quyết tâm thay đổi từ nhận thức của nhân viên đến thiết bị, công nghệ và bộ máy quản trị.
Ở góc độ nhà sản xuất, ông Nguyễn Ngọc An, cho rằng, TKNL không chỉ đơn giản là những con số tiết kiệm được mà nhìn từ góc độ phát triển bền vững, TKNL giúp DN phát triển đồng bộ từ giảm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản lý, tăng tính cạnh tranh, giảm ô nhiễm môi trường...
Khai thác sức lao động và quản lý chi phí là hai vấn đề hết sức cạnh tranh trong thời gian tới, giai đoạn hậu WTO và TPP. Vì thế, nếu DN không đầu tư vào lĩnh vực này thì khó có thể giảm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài.