Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Chia sẻ với bạn về vàng trang sức: Cầm vàng mà đánh rơi vàng

Điều này cũng thấy rõ tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam 2013 (VIJF) diễn ra từ 7 - 11/11. Trong khi các DN của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM vì khó khăn không tham gia VIJF thì có đến 30 DN đến từ Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Ấn Độ đã có mặt tại hội chợ. Và dĩ nhiên là ngoài việc bán hàng, các DN này cũng đang tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác.
Rục rịch xâm nhập
Tại nhiều nước trong khu vực, vàng trang sức luôn mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu vàng trang sức của Thái Lan đạt bình quân khoảng 3 tỷ USD/năm, Ấn Độ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD... Với cơ cấu dân số trẻ và đông, Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ nữ trang đầy tiềm năng.
Ước tính, mỗi năm, Việt Nam chi khoảng 3,5 tỷ USD để mua vàng và trang sức. Ông Cao Xuân Lãnh, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng Bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), cho rằng, nhu cầu vàng trang sức ở Việt Nam rất lớn, với tốc độ phát triển bình quân 20 - 25%/năm.
Sức hút từ tiềm năng thị trường cộng với việc Việt Nam sắp mở cửa thị trường vàng là điều kiện để nhà đầu tư ngoại quan tâm. Từ đầu năm đến nay đã có 5 đoàn doanh nghiệp (DN) của Pháp, Brazil, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia đến TP.HCM tìm hiểu thị trường vàng Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM, cho biết, những DN này không đến tìm nhà phân phối mà muốn liên doanh, liên kết với các DN trong nước để thành lập công ty sản xuất vàng trang sức.
Điều kiện làm đối tác cho những DN này chỉ là cơ sở sản xuất có lực lượng tay nghề tốt. Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm cho thị trường trong nước, liên doanh sẽ sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của nhà đầu tư ngoại để xuất về nước họ.
Không chỉ làm việc với các hội ngành nghề, hiện có nhiều DN nước ngoài đã tiếp xúc trực tiếp với DN trong nước bàn về việc hợp tác. Một số DN đang trong quá trình tìm hiểu về đất đai để mua và xây dựng nhà xưởng.
Một số khác đã đầu tư, mở văn phòng đại diện và bước đầu nhờ các đối tác trong nước làm đại diện. Trước mắt, khi liên doanh chưa sản xuất, các nhà đầu tư sẽ đưa sản phẩm vào Việt Nam kinh doanh.
Ông Dưng cho biết, DN của ông với thương hiệu vàng Mỹ Linh Ngân cũng đã được các nhà đầu tư đặt vấn đề liên kết nhưng ông chưa tính đến phương án này.
70%
Hiện có khoảng 70% trong tổng số gần 3.000 DN kinh doanh vàng tại TP.HCM đã ngừng sản xuất, giải thể.
Mới đây, ông đã dẫn một số DN đến Đồng Nai, giúp họ tìm đất để mở nhà máy. Tuy nhiên, hầu hết các DN muốn đầu tư tại Việt Nam đều muốn có cơ sở sản xuất tập trung ở khu vực TP.HCM.
Điều này cũng thấy rõ tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam 2013 (VIJF) diễn ra từ 7 - 11/11. Trong khi các DN của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP.HCM vì khó khăn không tham gia VIJF thì có đến 30 DN đến từ Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Ấn Độ đã có mặt tại hội chợ. Và dĩ nhiên là ngoài việc bán hàng, các DN này cũng đang tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác.
Nguy cơ mất thị trường
Hiện tại, trong khi chưa có liên doanh nào chính thức ra mắt nhưng sản phẩm nước ngoài đã bắt đầu "đổ bộ” vào Việt Nam. Trong mấy tháng trở lại đây, tại các trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn TP.HCM tràn ngập các dòng vàng nữ trang xuất xứ từ Hồng Kông, Singapore, Đài Loan và đặc biệt là Trung Quốc.
Chưa biết vàng nữ trang này nhập khẩu vào thị trường bằng cách nào nhưng được mới chào các DN, trong nước làm nhà phân phối. Và chỉ cần ứng trước một số tiền nhỏ là các đại lý đã có thể trở thành nhà phân phối cho họ. Khi không bán hết sản phẩm, các đại lý có thể trả lại bất cứ lúc nào.
Hiện nay, cả nước có khoảng 12.000 đơn vị sản xuất, gia công vàng trang sức nhưng chỉ có rất ít công ty đầu tư lớn, sản xuất công nghiệp như DOJI, PNJ, SJC... đủ sức cạnh tranh với hàng nước ngoài. Bởi, hiện nay ngành nữ trang Việt Nam đang vấp phải rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh sức mua giảm sút, DN trong nước còn chịu những tác động ở khâu đầu vào như nguyên liệu không được nhập mà phải mua trong nước với giá cao, không được vay vốn để sản xuất kinh doanh vàng trang sức.
Ngoài ra, sự tràn ngập của vàng nữ trang Trung Quốc và các nước đã khiến cho các DN sản xuất trong nước vốn đã khó khăn nay càng thêm bế tắc. Hiện có khoảng 70% trong tổng số gần 3.000 DN kinh doanh vàng tại TP.HCM đã ngừng sản xuất, giải thể.
Trước áp lực nữ trang ngoại, các chuyên gia cho rằng, nếu không khéo, DN trong nước sẽ mất dần tính cạnh tranh với DN nước ngoài có lợi thế về thuế, công nghệ, kinh nghiệm chế tác đều hơn hẳn Việt Nam.
Bởi, dù Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển ngành công nghiệp trang sức, đặc biệt là xuất khẩu nhưng do thuế xuất khẩu vàng trang sức hàm lượng từ 80% trở lên còn cao (đến 10%), nên đồ trang sức Việt Nam khó cạnh tranh với các nước như Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc. Những nước này đã áp dụng thuế suất xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ ở mức 0% từ nhiều năm nay.
Nhưng điều mà các DN lo lắng hơn cả là áp lực khi mở cửa hoàn toàn thị trường vàng. Theo cam kết WTO, AFTA, năm 2015, Việt Nam sẽ bắt đầu mở cửa thị trường vàng và đến năm 2018, khi thuế suất nhập khẩu sẽ giảm bằng 0% thì nữ trang nước ngoài theo đường chính ngạch sẽ tràn ngập thị trường.
Và khi đó, các DN ngoại cũng không cần phải liên kết với DN trong nước để phân phối mà đưa hàng chính ngạch về bán. Còn số DN đã mở nhà máy với tiềm lực tài chính mạnh sẽ mở rộng đầu tư tại Việt Nam. "Và nếu cứ cái đà này thì DN trong nước sẽ trở thành đơn vị gia công cho nước ngoài", ông Dưng lo lắng.

Cùng tìm hiểu về năng lượng tái tạo: Trước lực cản EVN

Bên cạnh đó, Chính phủ còn có các chính sách hỗ trợ giá thị trường cho năng lượng tái tạo. Bắt đầu từ năm 2008, Bộ Công Thương hằng năm đều ban hành biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo (chi phí tránh được là chi phí sản xuất 1kWh của tổ máy phát có chi phí cao nhất trong hệ thống điện quốc gia).
Nhu cầu lớn
Việt Nam là nước có nhu cầu tiêu thụ năng lượng tương đối lớn với khoảng 39,9% tổng năng lượng tiêu thụ thuộc về sản xuất công nghiệp, 33,4% tổng năng lượng tiêu thụ phục vụ nhu cầu dân sinh và 22% phục vụ nhu cầu giao thông vận tải.
Đến năm 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng khoảng 6 lần so với năm 2010 và dự kiến phải nhập khẩu than cho sản xuất điện sau năm 2015.
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 mới đây đề ra ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng tái tạo gồm: thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và sinh khối.
Theo đó, tỷ trọng điện năng sản xuất từ các nguồn tái tạo sẽ chiếm 5,6% tổng công suất nguồn điện và đáp ứng 4,5% tổng nhu cầu điện vào năm 2020. Đến năm 2030, tỷ trọng này sẽ tăng lên 9,4% tổng công suất nguồn điện và đáp ứng 6% tổng nhu cầu về điện.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Chính phủ đưa ra nhiều chính sách ưu đãi toàn diện cho các doanh nghiệp phát triển năng lượng tái tạo. Đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo đòi hỏi lượng vốn lớn, khiến nhà đầu tư phải chịu rủi ro cao.
Vì vậy, Chính phủ đưa ra các chính sách tập trung vào hỗ trợ nguồn vốn và chi phí vay vốn cho doanh nghiệp với cơ chế tài trợ đầu tư, hỗ trợ lãi suất, bảo đảm và bảo hiểm tín dụng với mức phí ưu đãi.
Tính đến nay, nhà máy điện gió tại Bạc Liêu là một ví dụ về dự án đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo tiếp cận được nguồn vốn từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ thông qua sự bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam. Dự án này đã vay được 70% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 1 và dự kiến sẽ được vay 85% tổng vốn khi sang giai đoạn 2.
Dự án phát triển năng lượng tái tạo (REDP) do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ và Bộ Công Thương điều phối thực hiện trong những năm gần đây cũng đã cung cấp tổng số tiền vay lên tới 78 triệu USD với lãi suất ưu đãi cho 9 dự án thủy điện nhỏ công suất dưới 30MW.
Mới đây, Chính phủ tiếp tục khẳng định sự ủng hộ đối với năng lượng tái tạo khi ban hành Nghị định số 38, trong đó chỉ rõ năng lượng tái tạo là một trong hai loại hạ tầng năng lượng được ưu tiên tiếp cận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
Dự án năng lượng tái tạo cũng được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư để xây dựng ban đầu cũng như khi mở rộng sản xuất. Ngoài ra, sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải cũng nằm trong số các lĩnh vực được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm.
Trong khi đó, mức thuế suất đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí - các nguồn nguyên liệu hóa thạch chính sử dụng làm năng lượng hoặc sản xuất năng lượng tại Việt Nam - nằm ở mức cao hơn hẳn, trong khoảng từ 32% đến 50% tùy từng dự án.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn có các chính sách hỗ trợ giá thị trường cho năng lượng tái tạo. Bắt đầu từ năm 2008, Bộ Công Thương hằng năm đều ban hành biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo (chi phí tránh được là chi phí sản xuất 1kWh của tổ máy phát có chi phí cao nhất trong hệ thống điện quốc gia).
Biểu giá chi phí tránh được giúp các dự án thủy điện nhỏ bán được điện với giá tương đương với các nhà máy điện lớn khác đang sử dụng các nguồn nhiên liệu không tái tạo.
Đối với các nhà máy sản xuất điện gió, giá bán điện của các nhà máy điện gió nối lưới được quy định là 1.614 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 7,8 US cent/kWh), trong đó Chính phủ hỗ trợ trực tiếp 207 đồng/kWh (tương đương 1 US cent/kWh), bên mua điện chi trả phần còn lại.
Điểm nghẽn EVN
Tuy Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhưng các nhà đầu tư vẫn tỏ ra ngần ngại với lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Việt Nam do điều mà họ quan tâm nhất vẫn chưa được giải quyết, đó là cơ chế quản lý ngành điện còn thiếu tính thị trường.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hiện vẫn là người mua buôn duy nhất trên thị trường ở mức giá điều hành cứng nhắc khiến các nhà đầu tư không thể chủ động về nguồn tiêu thụ và giá cả đầu ra của mình.
Bên cạnh đó, các chính sách liên quan đến năng lượng tái tạo được ban hành quá nhiều bởi các cơ quan khác nhau dẫn tới chồng chéo và đôi khi mâu thuẫn trong chính sách, không tạo nên khung pháp lý thống nhất cho lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Một điểm quan trọng là EVN vẫn mua điện từ các dự án năng lượng tái tạo ở mức giá thấp hơn giá thành, trong khi trợ giá của Chính phủ chỉ bù đắp được một phần hạn chế. Điều này khiến các nhà đầu tư nản lòng vì giá bán và doanh thu quá thấp so với đầu tư vào các ngành khác.
Thêm vào đó, thủ tục đầu tư và vận hành các dự án năng lượng tái tạo rất phức tạp với sự tham gia của quá nhiều cơ quan chức năng khiến nhà đầu tư tốn rất nhiều thời gian và chi phí.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo nhờ tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và điều kiện khí hậu. Nhu cầu về năng lượng của Việt Nam cũng rất lớn và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới và gây áp lực cho các doanh nghiệp lớn trong ngành năng lượng hiện nay.
Vì vậy, phát triển năng lượng tái tạo là giải pháp đúng đắn phù hợp với xu thế toàn cầu nhưng Chính phủ Việt Nam phải xây dựng cơ chế quản lý phù hợp và ban hành các chính sách thiết thực để huy động hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước cho phát triển nguồn năng lượng này trong thời gian tới.

Khám phá sự việc lịch Tết lên kệ

Trong khi đó, năm nay, trên mỗi tờ lịch của Công ty Trần Chung Á Châu - ATC đều phủ nền bằng những hoa văn giống giấy dó nghệ thuật và những bức tranh thủy mặc, tranh dân gian Đông Hồ. Áo block lịch được in metalize, bìa treo làm bằng ván MDF ép vân và in metalize, hộp in metalize ép vân. Bộ lịch đựng trong túi giấy kzaf 201gsm và in nhũ.
Đến thời điểm này, dù đã vào mùa lịch nhưng rất nhiều nhà xuất bản, đơn vị làm lịch đều than, do kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp giảm bớt chi phí quảng cáo nên đơn đặt hàng lịch năm nay giảm hơn năm trước từ 20 - 30%, trong khi các đơn vị sản xuất lịch đều phải tăng chi phí sản xuất, đầu tư để tăng chất lượng, mẫu mã, bao bì, giấy.
Theo các doanh nghiệp sản xuất lịch, mùa lịch năm 2014, lượng lịch block sẽ không vượt quá con số 12 triệu. Ông Nguyễn Hữu Cứ, Phó giám đốc Công ty Hương Trang cho biết, số lượng lịch đặt hàng của các công ty năm nay tại Hương Trang giảm gần 50%.
Còn Công ty Trí Đức cho biết, chỉ tính riêng Ngân hàng ACB, năm ngoái đặt gia công gần 600.000 block lịch, năm nay giảm còn 160.000, Vietin Bank chi nhánh 1 năm ngoái đặt 14.000 block năm nay chỉ còn 4.000.
Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tăng của khách hàng và để cạnh tranh, hầu hết các công ty sản xuất lịch đều tăng chi phí đầu tư.
Ông Trần Viết Thu, Giám đốc Nhà sách Nguyên Bình cho biết, năm nay các bộ lịch của Nhà sách đều được đầu tư công phu hơn mọi năm, đơn cử các mẫu lịch đều được chọn lọc hình ảnh với giá mua tăng từ 800.000 đồng/tấm hình lên 1 triệu hoặc 1,2 triệu đồng.
Trong khi đó, năm nay, trên mỗi tờ lịch của Công ty Trần Chung Á Châu - ATC đều phủ nền bằng những hoa văn giống giấy dó nghệ thuật và những bức tranh thủy mặc, tranh dân gian Đông Hồ.
Áo block lịch được in metalize, bìa treo làm bằng ván MDF ép vân và in metalize, hộp in metalize ép vân. Bộ lịch đựng trong túi giấy kzaf 201gsm và in nhũ.
Vì vậy, chi phí đầu tư cũng tăng thêm 25% so với năm ngoái nhưng giá bán vẫn không thay đổi, vẫn ở mức giá 290.000đ/bộ block đại (14cm x 40cm), 390.000đ/block siêu đại (20cm x 48cm).
Ông Nguyễn Hữu Cứ, Công ty Hương Trang, cho biết thêm, lịch là một sản phẩm không chỉ để xem ngày tháng mà còn mang tính nghệ thuật, vì vậy năm nay Công ty tập trung vào các chủ đề hương sắc Việt Nam, một thoáng quê hương...
Đặc biệt, để tạo sự mới lạ, Hương Trang tăng chi phí đầu tư lên 25% để phối hợp với Công ty Việt Hoa thiết kế bộ lịch năm 2014 gồm bộ lịch: Ngựa vui, Kim mã phát tài... Tất cả hình ảnh trong bộ lịch của Hương Trang đều được vẽ tay hoặc dùng tranh lụa.
Tương tự, Công ty ATC cũng phối hợp cùng Nhà xuất bản Hồng Đức đưa ra thị trường bộ lịch block nghệ thuật 2014. Lấy ý tưởng từ nghệ thuật thư pháp, sản phẩm được thiết kế độc đáo và mang ý nghĩa nhân văn, hướng con người đến với những giá trị truyền thống tốt đẹp đang dần bị mai một trong cuộc sống hiện đại.
Giám đốc Công ty ATC cho biết: "Bên cạnh chức năng chính là xem ngày tháng, chúng tôi quan niệm mỗi tờ lịch còn là một bức tranh thư pháp để trang trí phòng khách. Vì vậy, với bộ lịch 2014, điểm khác biệt của ATC là luân phiên cho 7 ngày trong tuần, ngay trung tâm tờ lịch in các chữ "trung, hiếu, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" được phác họa trên nét vẽ thư pháp và sắp xếp tuần tự đã tạo nên một "thú chơi" tao nhã.
Bên cạnh đó là những câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn, lời hay ý đẹp với mục đích khuyên con người sống tốt hơn và hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; tạo ra một sự sâu lắng giữa dòng chảy của thời gian. Đó chính là giá trị, là tác động của văn hóa và nhân văn...".
Mặc dù các nhà sản xuất lịch than thở, nhưng nhận định về sức mua của thị trường lịch Tết năm 2014, bà Phạm Thị Hóa, Trưởng Phòng Kinh doanh Nhà sách Fahasa lại lạc quan cho rằng, lịch được xem là một nét văn hóa của người Việt cho nên gia đình Việt nhà nào cũng phải có một cuốn lịch, tờ lịch để trang trí. Dự báo, năm nay sức mua sẽ tăng khoảng 10 - 30%. Và sức mua sẽ có khả năng tăng cao nhất vào thời điểm gần Tết Dương lịch.

Chia sẻ với bạn câu chuyện làm thuê trên sân nhà

Vận tải hàng hóa bằng đường bộ đã và đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt về giá. Ông Đỗ Hà Nam cho biết để giảm cước, đa số DN chọn cách chở gấp 2-3 lần trọng tải cho phép và “làm luật” để đi đường. Những DN muốn làm ăn chân chính không có chi phí trả trên đường, cũng không có khả năng cạnh tranh về giá cước thì không thể tồn tại.
Khi các doanh nghiệp nội còn mãi đá nhau, sân chơi logistics hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp ngoại. 

Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Sài Gòn
Những bất cập trong quy hoạch phát triển logistics (kho vận) và cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ của doanh nghiệp (DN) trong ngành, sự thiếu liên kết giữa DN xuất nhập khẩu và logistics là những lực cản khiến DN Việt Nam khó thoát kiếp làm thuê. Đó là nội dung được thảo luận tại diễn đàn “Logistics: Nâng cao năng lực cạnh tranh từ liên kết DN xuất nhập khẩu và logistics” diễn ra ngày 15/11 tại TP HCM.
Thiếu liên kết
Việt Nam có khoảng 1.200 DN hoạt động trong lĩnh vực logistics, chủ yếu tập trung tại TP HCM và Hà Nội. Ông Đỗ Xuân Quang - Chủ tịch Hiệp hội DN Dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Liên đoàn Các hiệp hội giao nhận ASEAN - cho biết trừ các DN nhà nước được cổ phần hóa, các DN trong lĩnh vực này có quy mô nhỏ và vừa với vốn điều lệ bình quân 4-6 tỉ đồng.
Hiện các DN logistics trong nước hoạt động manh mún, chưa chuyên nghiệp, cạnh tranh chủ yếu về giá và chủ yếu gia công cho nước ngoài, đóng vai trò nhà thầu phụ. 25 DN logistics nước ngoài đang chiếm 70%-80% thị phần.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Anh Tuấn, các DN logistics Việt Nam chưa tìm được tiếng nói chung với DN xuất nhập khẩu, chưa tạo ra sự gắn bó đầy đủ, thúc đẩy phát triển chung cho cộng đồng DN Việt Nam. Điều này dẫn đến việc nhiều DN xuất nhập khẩu trong nước phải chịu các loại phí cao, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, tập quán mua CIF, bán FOB của các DN xuất nhập khẩu Việt Nam tồn tại khá dai dẳng, bắt nguồn từ thực trạng chủ yếu nhập máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thô, sơ chế nên các đối tác thường có ưu thế trong đàm phán hợp đồng và giành quyền vận tải, bảo hiểm.
Ở góc độ DN, ông Đỗ Hà Nam, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Intimex, cho biết thực trạng đáng buồn là các DN logistics trong nước quy mô nhỏ, manh mún nhưng chưa biết liên kết mà kinh doanh kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành hợp đồng.
DN trong nước chủ yếu hạ giá thuê container khiến các DN trong nước bị thiệt, còn DN nước ngoài là những chủ tàu thì “ngư ông đắc lợi”. Trong khi các DN trong nước mãi đá nhau thì các tập đoàn hàng hải lớn như APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics... đã và đang xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Ví dụ, khi nhà máy Canon ở Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam, Dragon Logistics tham gia đấu thầu. DN thắng thầu là DN chào dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy vận tải biển bù lại. Với cách làm này, các DN không có tàu biển phải chào thua.
Nhiều bất cập
Tỉ trọng logistics/GDP cao gấp đôi thế giới 
Ngành logistics có nhiều tiềm năng phát triển với 90% hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển, tốc độ tăng trưởng hàng container là 17%/năm. Hàng container dự báo qua cảng biển Việt Nam đến năm 2015 đạt khoảng 12 triệu TEU, đến 2020 đạt hơn 17,5-19,5 triệu TEU và đến 2030 đạt 35-40 triệu TEU. Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỉ trọng logistics/GDP Việt Nam tương đối cao: ở mức 25%, gấp 2-2,5 lần so với thế giới (ở Trung Quốc chỉ 17,5%, Singapore 9%). Tỉ lệ thuê ngoài logistics còn rất thấp, chỉ 25%-30%, trong khi của Trung Quốc là 63,3%, Nhật Bản và các nước châu Âu, Mỹ là 40%.
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen, phản ánh hoạt động logistics còn nhiều bất cập, làm tăng chi phí cho DN. Hoa Sen có 2 nhà máy đặt tại Bình Dương và Khu Công nghiệp Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu). Hiện mỗi tháng Hoa Sen xuất trên 1.000 container hàng với khoảng 20.000-30.000 tấn.
Mỗi khi xuất hàng, công ty phải chở hàng về Bình Dương đóng container rồi chở ngược về cảng Cát Lái để xuất khẩu. Nếu muốn đóng hàng trực tiếp tại Phú Mỹ thì phải kéo container rỗng từ TP HCM về Phú Mỹ, đóng hàng xong thì chuyển container về cảng Cát Lái để xuất.
Đây là sự lãng phí vô cùng lớn khi cảng Cái Mép hoàn toàn có đủ điều kiện cho các tàu trọng tải lớn cập cảng.
Trong khi đó, ban quản lý cảng Cái Mép, Cát Lái và các hãng tàu hoàn toàn có thể phối hợp để bố trí các container rỗng cũng như các tuyến hoạt động tại khu vực cảng Cái Mép để tạo thuận lợi cho các DN xuất hàng qua cảng Cái Mép, vừa giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động và giảm ùn tắc, quá tải cho cảng Cát Lái.
Ở thị trường nội địa, vận tải nội địa chủ yếu là đường bộ, chi phí rất cao. Tính ra, chi phí vận chuyển hàng ra Đà Nẵng gấp rưỡi hoặc gấp đôi ra Hải Dương, Hưng Yên.
Vận tải hàng hóa bằng đường bộ đã và đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt về giá. Ông Đỗ Hà Nam cho biết để giảm cước, đa số DN chọn cách chở gấp 2-3 lần trọng tải cho phép và “làm luật” để đi đường. Những DN muốn làm ăn chân chính không có chi phí trả trên đường, cũng không có khả năng cạnh tranh về giá cước thì không thể tồn tại.
Lý giải những hạn chế hiện tại, ông Bùi Thiên Thu - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải - cho rằng mạng lưới giao thông vận tải hiện còn thiếu, yếu, nguồn vốn đầu tư cho kết nối hạ tầng dàn trải; dịch vụ cảng chưa đáp ứng yêu cầu, hệ thống cảng đường thủy nội địa công nghệ và thiết bị khai thác còn lạc hậu; hệ thống về phân phối, kho bãi chưa đồng bộ… nên chưa đáp ứng được chuỗi hoạt động logistics.
Theo ông Đỗ Xuân Quang, một số quy định luật pháp về logistics không phù hợp và không tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bền vững. Ngoài ra, sự không thống nhất trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia quản lý dịch vụ logistics cũng gây khó khăn cho lĩnh vực này phát triển.

Khám phá tình trạng kiếm tiền triệu, đốt tiền tỷ

Đó là chưa kể khi đầu tư, công nghệ không phù hợp với thực tế sản xuất lại phải hủy bỏ, rất tốn kém. Đồng Nai có hơn 5.000 DN lớn, nhỏ, năng lượng tiêu thụ cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 70% tổng năng lượng tiêu thụ của toàn tỉnh. Thế nhưng, sau hơn 3 năm triển khai các chương trình TKNL, chỉ có 15 DN ứng dụng.
Đút tiền vào lò hơi
Những con số chi phí năng lượng khổng lồ của DN Việt Nam cho thấy một mặt khác của khả năng cạnh tranh kém cỏi khi giá thành, chi phí sản xuất bị tiền điện, tiền dầu... chiếm phần lớn giá thành.
Theo tính toán, để vận hành 5 dây chuyền giết mổ tổng công suất 2.700 con heo, bò/ca và 2 nhà máy chế biến thực phẩm công suất 28.000 tấn/năm, mỗi tháng, Vissan phải dùng đến 100.000 lít dầu FO, 500.000mkhối nước và hàng trăm ngàn kWh điện.
Nếu tính 18.800 đồng/ lít dầu như hiện nay thì mỗi tháng, Vissan phải tốn đến 1,88 tỷ đồng cho riêng khoản chất đốt vận hành các lò hơi.
Tuy không phải là DN lớn trong lĩnh vực này nhưng với việc sử dụng 2 lò hơi (1 lò 6 tấn và 1 lò 5 tấn) để phục vụ cho các công đoạn sản xuất như hấp mì, gia nhiệt dầu, chiên mì..., mỗi năm, Công ty Lương thực Thực phẩm Colusa - Miliket cũng tiêu tốn 995.000 kWh điện, 2.930 tấn than cho sản xuất với tổng chi phí gần 5 tỷ đồng.
Trong khi đó, với 3 nhà máy sản xuất thủy sản chế biến, mỗi tháng, Công ty Sài Gòn Food cũng tốn đến 1,3 tỷ đồng cho tiền điện, 400 triệu đồng cho chi phí chất đốt. Tính chung, mỗi ngày, Sài Gòn Food phải mất đến gần 57 triệu đồng cho phần năng lượng phục vụ sản xuất...
10 - 15%
Trong lúc nhu cầu điện tăng trưởng trung bình 10 - 15%/năm thì mức lãng phí điện cũng vô cùng lớn. Theo Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC), mức lãng phí điện là từ 10 - 50%.
Những con số cụ thể trên cho thấy rõ hơn về số nhiên liệu khổng lồ mà nhiều DN sử dụng. Theo ông Nguyễn Văn Long, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Tiết kiệm năng lượng, Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), đa số các ngành công nghiệp của Việt Nam là những ngành thuộc loại tiêu tốn nhiều năng lượng.
Cường độ sử dụng năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5-1,7 lần, tức để làm ra cùng một giá trị sản phẩm như nhau, Việt Nam phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5-1,7 lần so với hai nước trên.
Ông Xavier Denoly, Tổng giám đốc Schneider Electric Việt Nam - Campuchia, cũng cho rằng, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam đang tăng rất nhanh, trong đó, nhu cầu về điện chiếm phần quan trọng hơn cả. Việt Nam vốn là quốc gia giàu tài nguyên nên hiện nay, khả năng cung cấp năng lượng cho cả nước vẫn đủ.
Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch đang ngày một cạn kiệt, hệ thống nhà máy thủy điện ở Việt Nam đã hoạt động hết công suất, trong khi nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng Mặt trời... lại không được ứng dụng nhiều.
Đến năm 2025, dự báo Việt Nam sẽ cạn kiệt dầu khí và khi đó việc phải nhập khẩu than phục vụ cho nhu cầu năng lượng trong nước là hoàn toàn có thể xảy ra.
Ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho rằng, tiết kiệm năng lượng (TKNL) không chỉ quan trọng trong thời điểm hiện nay mà nhiệm vụ trong quản lý mà mỗi lãnh đạo cần phải quan tâm. Bởi, TKNL cũng đồng nghĩa với việc tiết giảm chi phí, hạ giá thành đồng thời bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
"Phải làm thế nào để TKNL và sản xuất sạch hơn cũng như tận dụng tối đa năng lượng để sản xuất ra sản phẩm có giá thành thấp nhất. Đây là một nhiệm vụ cấp bách và phải được thực hiện liên tục trong sản xuất, kinh doanh của DN cũng như trong phát triển bền vững với môi trường", ông Mười nói.
Tiết kiệm năng lượng: Nhặt nhạnh từng đồng
Tốn tiền tỷ cho năng lượng mỗi tháng, DN cũng phải đầu tư hàng chục tỷ đồng để giảm thiểu tiêu thụ năng lượng.
Trong sản xuất thủy hải sản đông lạnh, năng lượng (điện, nước, chất đốt...) là chi phí lớn nhất. Ông Lê Quang Vũ, Phó tổng giám đốc Công ty Sài Gòn Food, cho biết, trước thực tế tiêu tốn nhiên liệu quá cao, được sự hỗ trợ của Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM, tháng 7/2013, Sài Gòn Food đã triển khai cùng lúc nhiều giải pháp TKNL như thay bóng đèn thường bằng đèn compact, vận hành máy móc vào giờ thấp điểm, thay dầu DO cho các lò hơi bằng dầu FO... Đến nay, sau 3 tháng triển khai, chi phí cho năng lượng sản xuất giảm hơn 10%.
Không chỉ kêu gọi ý thức tiết kiệm từ người lao động, năm 2012, Công ty Colusa - Miliket còn đầu tư công nghệ để TKNL một cách hiệu quả nhất. Qua quá trình khảo sát và kiểm toán thực tế cho thấy, hiệu suất lò hơi của nhà máy mới đạt 65%.
Để khai thác hết hiệu suất 2 lò hơi này, Colusa - Miliket phải thay thế một loạt thiết bị, như lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng nước nóng nhằm kiểm soát hiệu suất lò hơi, cải tạo bồn thu hồi nước ngưng tụ, biến tần kiểm soát oxy dư...
5 - 15%
DN Nhật Bản phải chi tiền với thời gian hoàn vốn trên 7 năm chỉ để cắt giảm 1% mức tiêu hao năng lượng. Ở Việt Nam, phổ biến DN có thể tiết kiệm mức 5 - 15% trong 3 năm. (Nguồn: ECC).
Sau khi lắp đặt thay thế, DN đã kiểm soát được năng lượng hơi, tiết kiệm 30% lượng than tiêu thụ, 60% điện năng cho nồi hơi, tiết kiệm được 130 triệu đồng/tháng.
Nhận thấy nhu cầu bức thiết phải TKNL, bắt đầu từ năm 2010, Công ty Vissan đã đầu tư đồng loạt các công nghệ, giải pháp TKNL cho chất đốt, điện, nước.
Trong đó, Công ty thay đèn compact tiết kiệm điện, hợp tác với DN sản xuất công nghệ năng lượng xanh dùng trấu nén thay cho dầu FO, sử dụng công nghệ tái tuần hoàn sử dụng nước...
Ông Nguyễn Ngọc An, Phó tổng giám đốc Công ty Vissan, cho biết, sau khi sử dụng trấu nén thay cho dầu FO, Công ty đã tiết kiệm 49% chi phí chất đốt, khoảng 900 triệu đồng/tháng.
Giải pháp tiết kiệm điện có nhiều hạng mục nhưng chỉ riêng hạng mục biến tần cho hệ thống bơm nước đã tiết kiệm được 136.400kWh điện/năm, làm lợi 216 triệu đồng. Lượng nước sử dụng cũng giảm từ 40.000 - 45.000m3/tháng xuống 30.000m3/tháng.
Trong tổng chi phí vận hành, kinh doanh siêu thị thì lượng điện tiêu thụ của Big C chiếm đến 30%. Để giảm chi phí này, từ năm 2010, Big C đã chú trọng đầu tư TKNL. Một loạt giải pháp TKNL được triển khai đồng loạt cùng lúc trên tất cả các siêu thị Big C.
Cụ thể, Công ty đã thay đèn huỳnh quang T8 bằng đèn huỳnh quang T5, lắp đặt hệ thống giám sát và quản lý năng lượng tại các siêu thị, bổ sung bồn trữ lạnh để tận dụng giá điện giờ thấp điểm, lắp biến tần cho máy bơm hệ thống trữ lạnh, sử dụng vật liệu vách ngăn tường 3D giữ nhiệt...
Mới nhất là dự án pin năng lượng Mặt trời theo chuẩn LEED (Mỹ) và LOTUS (Việt Nam) triển khai tại Big C Bình Dương. Dự án có kinh phí 11 tỷ đồng, mỗi năm sản xuất lượng điện năng khoảng 230MWh (tương đương 7% tổng lượng điện tiêu thụ của trung tâm), giảm phát thải 150 tấn CO2/năm. Với dự án này, Big C Bình Dương tiết kiệm được 30% điện năng tiêu thụ so với các trung tâm thương mại thông thường.
Đầu tư từ đâu?
Tiết kiệm năng lượng là lợi ích lâu dài trong cạnh tranh của DN Việt Nam. Tuy nhiên, đối với nhiều DN nhỏ, vẫn còn nhiều rào cản để nỗ lực giảm thiểu chi phí năng lượng.
Theo khảo sát mới đây của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), phần lớn DN trong Tập đoàn đang sử dụng lãng phí năng lượng do công nghệ không phù hợp, hệ thống quản lý năng lượng lạc hậu và thiếu nhận thức của người sử dụng. Nếu áp dụng những phương pháp TKNL một cách đồng bộ, DN có thể tiết kiệm được khoảng 10 - 20% chi phí năng lượng cho sản xuất.
Mặc dù chương trình TKNL đã được triển khai từ nhiều năm nay và DN cũng nhận thức đây là điều cấp thiết phải thực hiện nhưng do nhiều "rào cản" nên thực tế số DN áp dụng các công nghệ, giải pháp TKNL chưa được bao nhiêu. Theo đại diện Công ty MEET-BI, có quá nhiều yếu tố khiến DN nhỏ và vừa Việt Nam chưa đầu tư cho TKNL.
Khảo sát của MEET-BIS mới đây đối với 172 DN nhỏ và vừa Việt Nam, cho thấy, đến 69% DN cho rằng, có nhiều việc khác phải làm; 43% thiếu các thông tin đáng tin cậy; 41% lo ngại về các chi phí triển khai các biện pháp mới và 8% cho rằng, có quá nhiều thông tin, không biết đâu là giải pháp tốt nhất.
Điều này lý giải vì sao sau 5 năm có mặt tại Việt Nam, MEET-BIS đã giới thiệu các giải pháp TKNL và nước tới 3.852 DN nhỏ và vừa nhưng chỉ có 423 DN chịu đầu tư để thực hiện các giải pháp này.
Hiện nay, đa phần các DN vừa và nhỏ đã bắt đầu chương trình tiết kiệm điện bằng việc thay các thiết bị chiếu sáng, điều hòa, sử dụng hợp lý các thiết bị trong khu vực văn phòng và nhà máy sản xuất. Những hoạt động này không đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư nhưng vẫn mang lại hiệu quả đáng kể.
Tuy nhiên, muốn tiết kiệm đáng kể nguồn năng lượng sử dụng hướng đến lâu dài, các DN buộc phải đầu tư các giải pháp về công nghệ. Biết là công nghệ cũ tiêu tốn nhiều điện năng nhưng để đầu tư lại toàn bộ công nghệ, DN phải tốn nguồn vốn khá lớn.
1,5 - 1,7 lần
Qua khảo sát tại một số DN trong Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho thấy, để sản xuất 7 kg sợi (độ nhỏ bình quân NE20) tốn 4.133 đồng tiền điện, 1 mét vải tốn 653 đồng và 1 sản phẩm may (quy ra áo sơ mi) tốn 312 đồng tiền điện. Để cùng làm ra một sản phẩm như nhau, các DN Việt Nam phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5-1,7 lần so với các DN của Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia.
Trên thực tế, để ứng dụng các giải pháp TKNL nhằm giảm chi phí sản xuất, nhiều DN đã tìm đến nguồn tài chính từ các quỹ hỗ trợ nhà nước nhưng không ít DN đành bỏ cuộc vì nguồn tín dụng cho lĩnh vực này vốn đã không nhiều lại khó tiếp cận vì thủ tục rườm rà, trong khi DN lại thiếu thông tin.
Đó là chưa kể khi đầu tư, công nghệ không phù hợp với thực tế sản xuất lại phải hủy bỏ, rất tốn kém. Đồng Nai có hơn 5.000 DN lớn, nhỏ, năng lượng tiêu thụ cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 70% tổng năng lượng tiêu thụ của toàn tỉnh. Thế nhưng, sau hơn 3 năm triển khai các chương trình TKNL, chỉ có 15 DN ứng dụng.
Bà Lê Trinh Thảo, Phó giám đốc công ty Orana, DN chuyên cung cấp các loại trái cây tươi chế biến, cho biết, ngay từ năm 2002, Công ty đã ứng dụng công nghệ xử lý nước công nghệ thải bốc hơi của Đan Mạch.
Do sản phẩm phải dùng rất nhiều nước trong quá trình sản xuất trong khi, nhiệt lượng từ năng lượng mặt trời vẫn không thể làm bốc hơi nhanh chóng hết lượng nước thải, vì vậy, công ty đành sử dụng công nghệ xử lý nước thải theo phương pháp sinh học (xử lý yếm khí tự nhiên) mà các DN sử dụng phổ biến hiện nay.
Theo các chuyên gia, những đơn vị có quy mô sản xuất nhỏ khi đầu tư, nếu không nhìn thấy những lợi ích của sự đầu tư đó, sẽ không dám làm. Vì vậy, cần phải thay đổi được nhận thức của DN, đặc biệt là cấp lãnh đạo về sự cần thiết tham gia hợp đồng chia sẻ TKNL các đơn vị cung cấp giải pháp.
Ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TP.HCM, cho rằng, việc DN có thành công trong những vấn đề TKNL hay không phụ thuộc rất lớn vào ý thức của lãnh đạo DN.
Bởi, sự quyết tâm của lãnh đạo quyết định đến 50% thành công cho chương trình TKNL của DN. Để việc TKNL có hiệu quả, lãnh đạo phải quyết tâm thay đổi từ nhận thức của nhân viên đến thiết bị, công nghệ và bộ máy quản trị.
Ở góc độ nhà sản xuất, ông Nguyễn Ngọc An, cho rằng, TKNL không chỉ đơn giản là những con số tiết kiệm được mà nhìn từ góc độ phát triển bền vững, TKNL giúp DN phát triển đồng bộ từ giảm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản lý, tăng tính cạnh tranh, giảm ô nhiễm môi trường...
Khai thác sức lao động và quản lý chi phí là hai vấn đề hết sức cạnh tranh trong thời gian tới, giai đoạn hậu WTO và TPP. Vì thế, nếu DN không đầu tư vào lĩnh vực này thì khó có thể giảm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài. 

Chia sẻ với bạn việc nở rộ kinh doanh theo chuỗi

Đó là bài học về sự lựa chọn mặt bằng, quán thứ 2 chỉ cần dời vị trí cũ khoảng 300-400 m, giá thuê rẻ hơn nhưng lại đắt khách hơn. Không cố tình xây dựng chuỗi ngay từ đầu nên phải đến quán thứ 11, ông Cường mới bắt đầu kinh doanh nhượng quyền với hình thức setup quán (với giá 55 triệu đồng cộng thêm 10 triệu đồng tiền ký quỹ) và cung cấp 100% cà phê cho quán.
Lợi ích của kinh doanh theo chuỗi là vừa thu lợi trực tiếp từ kinh doanh vừa thu được tiền “bán” thương hiệu. Ước tính vài năm gần đây, mô hình kinh doanh theo chuỗi tăng trưởng từ 20% - 30%/năm.
Cà phê Milano đã phát triển gần 200 cửa hàng chỉ trong hơn 2 năm
Ngoài làn sóng nhượng quyền các thương hiệu ngoại, nhiều ông chủ Việt cũng đã đầu tư mở chuỗi nhà hàng (kinh doanh đồ ăn, thức uống) mà mọi người vẫn quen gọi là “quán” và được khách hàng đón nhận.
Đua nhau mở mới
Từ quán Milano “cà phê mang về” đầu tiên trên đường Thống Nhất (quận Gò Vấp, TP HCM) khai trương hồi tháng 9/2011, đến nay, Milano đã xây dựng thành chuỗi hệ thống lên đến gần 200 quán trên cả nước.
Chuỗi nhà hàng Shi-fu Dimsum house chuyên phục vụ các món dimsum (thức ăn điểm tâm của người Hoa, nay đã được toàn cầu hóa) vừa mở cơ sở mới trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1) vào đầu tháng 11.
Hay như chuỗi nhà hàng Tokyo Deli chuyên phục vụ đồ ăn Nhật Bản mở đầu tiên vào năm 2007, nay đã có nhà hàng thứ 8 được khai trương.
Một tên tuổi không thể không nhắc đến là Công ty CP Cổng Vàng, hiện sở hữu tới 8 chuỗi - 40 nhà hàng cũng khởi đầu chỉ từ 5 nhà hàng vào năm 2008. Trong giai đoạn từ 2008-2012, công ty đạt tỉ lệ tăng trưởng hằng năm là 21%.
Các tên tuổi như cà phê Trung Nguyên, chuỗi cơm tấm Thuận Kiều, nhà hàng Gạo, Con Gà Trống... vẫn đang giữ được thương hiệu và chiếm giữ những mặt bằng đẹp.
Theo TS Nguyễn Công Ái - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH KPMG, chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường chọn địa điểm đầu tư - hiện đang là thời cơ của các chuỗi nhà hàng do việc tìm kiếm mặt bằng để mở nhà hàng mới dễ dàng và giá thuê rẻ.
“Chúng tôi đang tư vấn cho một số khách hàng trong việc mở rộng chuỗi và thấy rõ việc tăng số lượng nhà hàng không chỉ đơn giản là chiếm mặt bằng đẹp mà do hiệu quả kinh doanh mang lại. Với điều kiện chuỗi nhà hàng đó phải “bắt” được thị hiếu của khách hàng, nhất là khách hàng trẻ” - ông Ái nói.
Con dao 2 lưỡi
Bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương, cho biết kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại là một mô hình tiến bộ, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro đã phát triển và được áp dụng từ hàng chục năm nay tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, phương thức này mới phát triển 5-6 năm trở lại đây.
Theo giới kinh doanh trong ngành ẩm thực, đây là một mô hình thông minh khi chính việc gia tăng về số lượng cửa hàng cũng là cách quảng cáo tốt nhất. Ngoài ra, so với việc mở quán đơn lẻ, việc mở chuỗi có thể giảm chi phí do dễ dàng đàm phán với nhà cung cấp để lấy được giá sỉ.
Sự thành công ấn tượng của chuỗi cà phê Milano được ông Lê Minh Cường, Giám đốc Công ty TNHH Cà phê Lê Phan (chủ hệ thống), tiết lộ là nhờ sự thất bại của cửa hàng thứ 2 và 3.
Đó là bài học về sự lựa chọn mặt bằng, quán thứ 2 chỉ cần dời vị trí cũ khoảng 300-400 m, giá thuê rẻ hơn nhưng lại đắt khách hơn. Không cố tình xây dựng chuỗi ngay từ đầu nên phải đến quán thứ 11, ông Cường mới bắt đầu kinh doanh nhượng quyền với hình thức setup quán (với giá 55 triệu đồng cộng thêm 10 triệu đồng tiền ký quỹ) và cung cấp 100% cà phê cho quán.
Tuy nhiên, ông Cường thừa nhận việc mở quán theo chuỗi và phát triển quá nhanh cũng là con dao 2 lưỡi, nếu quán mới làm tốt sẽ nhân thêm uy tín nhưng chỉ cần một quán làm không đúng sẽ ảnh hưởng đến cả thương hiệu. Vì thế, đã có 2 quán buộc phải thôi sử dụng thương hiệu Milano vì đã bán độn cà phê “bẩn” vào để tăng lợi nhuận.
Không dễ ăn! 
Gloria Jeans Coffee là đại diện cho sự thất bại kinh doanh chuỗi tại Việt Nam. Vào thị trường Việt Nam từ năm 2006, đến năm 2011, thương hiệu này chỉ có 6 cửa hàng, trong khi mục tiêu phải phát triển đến hơn 20 cửa hàng trong cả nước. Hiện nay, thương hiệu này đã đóng cửa gần hết các cửa hàng của mình. Hàng loạt hệ thống nhà hàng ăn uống như bánh xèo Ăn Là Ghiền, cơm tấm Cali, phở Cười, trà sữa Hoa Hướng Dương... cũng đang chựng lại, có dấu hiệu “thu gọn” do không phát triển được thị trường.
Theo một chuyên gia nghiên cứu về thị trường, chi phí quản lý và chất lượng dịch vụ là vấn đề quan trọng nhất khi nhân rộng chuỗi kinh doanh. Hầu hết các chuỗi kinh doanh ăn uống tại Việt Nam chết yểu trong thời gian qua là do không chú trọng đến vấn đề này khiến khách hàng rời xa.

Thực hư câu chuyện hàng không giá rẻ:Kẻ khoe lời, người kêu lỗ

Ông Lê Hồng Hà, Tổng giám đốc Jestar Pacific, cho biết thêm, sau 5 năm gia nhập thị trường hàng không, đến nay Jetstar vẫn chưa có lãi. Và đến năm 2013, vẫn là một năm khó khăn nên Hãng đang điều chỉnh lại chiến lược, cụ thể việc Jetstar chỉ còn 5 chiếc máy bay là bước lùi nhỏ nhằm để cân đối thị trường và tập trung cho các bước sau. Cũng vì khó khăn mà trước đó, các hãng hàng không AirMekong, Indochina mặc dù sau vài năm hoạt động cũng khá nổi, nhưng cuối cùng đã phải từ bỏ đường bay. Chính vì vậy, việc VietJetAir thông báo có lãi và mua 92 máy bay đã gây hoài nghi trong dư luận.
VietJetAir với kế hoạch đầy tham vọng là mua 92 máy bay Airbus
Trên mức hòa vốn
Theo ông Võ Huy Cường, Phó cục trưởng Cục Hàng không, năm qua, dù kinh tế có khó khăn, nhưng các hãng hàng không giá rẻ chẳng những tồn tại được mà còn phát triển tốt vì có một lượng lớn hành khách từ hàng không truyền thống chuyển sang.
Thông tin này được bà Jasmin Lee, Giám đốc Thương mại AirAsia (Malaysia), khẳng định qua kế hoạch tăng trưởng của AirAsia. Hiện hãng bay này có 60 chuyến bay/tuần từ Kuala Lumpur, Bangkok, Jakarta đến Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM.
Nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng từ 10 - 15%/năm, AirAsia đang chuẩn bị tăng tần suất bay, cũng như khai thác các điểm đến mới là Huế và Nha Trang.
Đặc biệt AirAsia đang có chiến lược thâm nhập thị trường Việt Nam thông qua liên doanh với một đối tác trong nước. Bà Jasmine cũng cho biết. "Công suất sử dụng ghế của AirAsia luôn đạt trên 80%, nghĩa là đã trên mức hòa vốn".
Theo các chuyên gia trong ngành, các hãng hàng không lớn như Emirates, Vector, AirAsia, Lion Air... đều có thế mạnh trên các đường bay châu Á, Đông Nam Á và quốc tế, nhưng vẫn đang ráo riết mở thêm đường bay đến Việt Nam.
Ngược lại, các hãng giá rẻ Việt Nam cũng đang có chiến lược phát triển đường bay quốc tế, cụ thể là châu Á và Đông Nam Á khiến thị phần này đang trở nên cạnh tranh gay gắt.
Ông Lưu Đức Khánh, Giám đốc Điều hành VietJetAir, cũng cho biết, hiện tại VietJetAir sẽ vẫn tập trung kinh doanh ở thị trường nội địa vì vẫn còn nhiều cơ hội tốt để phát triển.
Tuy nhiên, Hãng sẽ tiếp tục mở rộng mạng bay quốc tế, trong đó có đường bay Hà Nội - Seoul trong quý IV/2013 và sẽ xem xét mở các tuyến đến Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan trong năm tới và cuối cùng sẽ là Nga, Úc, Mỹ... Với việc mở thêm các đường bay mới, VietJetAir hy vọng sẽ tăng thị phần lên 25%.
Theo ông Lê Hồng Hà, Tổng giám đốc Jestar Pacific, ngay từ đầu năm, thị trường nội địa có khó khăn do nhu cầu đi lại của hành khách ít hơn, nên tuyến bay quốc tế đảm bảo cho sự phát triển của Jestar Pacific và đem lại hiệu quả khai thác đường bay của Hãng.
Vào tháng 3/2013, Jetstar Pacific khai thác đường bay từ TP.HCM đến Singapore, từ Singapore đến Indonesia với tần suất một chuyến/ngày.
Ngoài ra, hãng sẽ tiếp tục mở các đường bay trong khu vực Đông Nam Á. "Với chiến lược mở đường bay ngoại, năm 2013 Hãng sẽ giảm lỗ, tiến tới hòa vốn và có lãi", ông Hà cho biết.
Bay dài nuôi bay ngắn
VietJetAir ra đời sau Jetstar Pacific hơn 3 năm. Tuy nhiên, tính đến cuối tháng 9/2013, VietJetAir đang chiếm khoảng 22,9% thị phần hàng không Việt Nam, bỏ xa hãng hàng không giá rẻ đối thủ (13,5%).
Theo Trung tâm Hàng không CAPA, VietJetAir tăng nhanh thị phần nhờ nâng tần suất ở một số đường bay nội địa và mở thêm một số đường bay mới, trong đó có 2 đường bay đầu tiên từ Hà Nội và TP.HCM đến Bangkok trong nửa đầu năm nay.
Với kế hoạch này, VietJetAir có kế hoạch tăng gấp đôi số máy bay, tới 20 chiếc vào năm 2015 và đang tăng tốc liên doanh với 3 hãng hàng không khác trong khu vực bao gồm một hãng hàng không ở Myanmar, hãng KanAir của Thái Lan, một hãng hàng không Đông Bắc Á.
Cách liên doanh này của VietJetAir được nhiều người cho rằng, đang đi theo bài học thành công của AirAsia khi liên doanh với nhiều hãng hàng không Thái Lan, Indonesia, Philippines, Nhật Bản, Ấn độ.
Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn báo chí mới đây, ông Lương Hoài Nam, hiện là cổ đông của JPA, nguyên Giám đốc JPA, khẳng định: "Các hãng hàng không nhỏ như Jetstar Pacific Airline, Vasco (thuộc VNA) và VietJetAir chưa bao giờ biết lợi nhuận".
Ông Đỗ Xuân Quang, Tổng giám đốc Hãng hàng không Vector Aviations, cũng cho biết: "Các hãng hàng không giá rẻ đang bay nội địa để kết nối quốc tế, đó là chiến lược lấy ngắn nuôi dài, nghĩa là nhằm chấm dứt lỗ trong thời gian sớm nhất".
Ông Lê Hồng Hà, Tổng giám đốc Jestar Pacific, cho biết thêm, sau 5 năm gia nhập thị trường hàng không, đến nay Jetstar vẫn chưa có lãi. Và đến năm 2013, vẫn là một năm khó khăn nên Hãng đang điều chỉnh lại chiến lược, cụ thể việc Jetstar chỉ còn 5 chiếc máy bay là bước lùi nhỏ nhằm để cân đối thị trường và tập trung cho các bước sau.
Cũng vì khó khăn mà trước đó, các hãng hàng không AirMekong, Indochina mặc dù sau vài năm hoạt động cũng khá nổi, nhưng cuối cùng đã phải từ bỏ đường bay. Chính vì vậy, việc VietJetAir thông báo có lãi và mua 92 máy bay đã gây hoài nghi trong dư luận.
Không ít thông tin cho rằng, đó là động thái để VietJetAir thực hiện kế hoạch huy động vốn để mở rộng quy mô hoạt động từ thị trường tài chính quốc tế, cụ thể là Hãng sẽ IPO (phát hành trái phiếu lần đầu ra công chúng) tại Hồng Kông hay Singapore vào năm 2015 - 2016, trong khi các nhà đầu tư trong nước đang tỏ ra e ngại và thận trọng đầu tư vào lĩnh vực này.
Tuy nhiên, ông Lưu Đức Khánh, Giám đốc Điều hành VietJetAir, vẫn khẳng định: "Chúng tôi phải rất chắc chắn với kế hoạch tài chính của mình thì mới đặt mua máy bay. Trong 100 máy bay này có 62 chiếc VJA đặt mua, 30 chiếc là VJA được quyền mua thêm khi đối tác có hàng và 8 chiếc thuê.
Để mua được máy bay, việc vay vốn từ ngân hàng chỉ là một trong nhiều nguồn tài trợ vốn. Nguồn vốn chủ yếu do các tổ chức lớn của nước ngoài thu xếp".
Được biết, ngày 31/10 vừa qua, Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (ngân hàng lớn đứng thứ hai tại Trung Quốc), Công ty CCB Financial Leasing đã ký kết hợp tác toàn diện về việc cung cấp tài chính cho vay, thuê máy bay, động cơ và các vật tư hàng không có giá trị cao.
Có vẻ như đây là bước đi mở đầu cho việc thu xếp tài chính cho việc mua 100 máy bay của VJA. Riêng khoản lợi nhuận có lãi, khi bắt đầu lập kế hoạch kinh doanh, VietJetAir đã dự kiến sẽ chịu lỗ trong ba năm đầu, nhưng chưa đầy hai năm đã có lãi, vượt hơn kỳ vọng của Hãng.

Vì sao có chuyện: Cữ bệnh lại gặp gió?

Với vai trò là Chủ tịch Hội Doanh nghiệp quận Tân Bình, ông Lê Trung Hoan, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Dệt May Thương mại Tấn Minh, chia sẻ, dù không thể thống kê một cách cụ thể, nhưng theo nhìn nhận từ phía Hội thì "nhiều DN đã rất yếu và gần như đứng yên". Đặc biệt đối với các DN trong lĩnh vực bất động sản, dệt nhuộm, vật liệu xây dựng... hầu như chưa thấy dấu hiệu hồi phục. Khi bàn đến vấn đề thưởng Tết, ông Hoan cho biết, một DN có lãi khoảng 20% mới có thể chăm lo được việc trả lương tốt cho người lao động.
Những DN thâm dụng lao động như dệt may lo gánh nặng thưởng tết
Theo số liệu thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có gần 42.000 DN ngưng hoạt động trong 10 tháng đầu năm 2013, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2012. Song, với thời gian này, cũng đã có 11.750 DN tái hoạt động, cho thấy những dấu hiệu hồi phục kinh tế.
Riêng tại TP.HCM, báo cáo từ Cục Thuế cho biết, trong 9 tháng đầu năm, có 25.943 DN phát sinh, tăng cao hơn lượng DN giải thể (17.938 DN) là 8.005 DN, trong đó, có 20.731 DN thành lập mới; 5.212 DN tái hoạt động, đưa tổng số DN đang hoạt động trên địa bàn lên 137.723 DN.
Điều đáng ghi nhận là số DN tái hoạt động cũng đang tăng dần lên qua các tháng. Đây được xem là dấu hiệu tích cực về sự phục hồi kinh doanh của các DN trên địa bàn.
Song, với những thiên tai vừa qua, hoạt động của các DN tại vùng đồng bằng sông Hồng vẫn gặp nhiều khó khăn, với số lượng DN thành lập mới gia tăng không đáng kể, khoảng 0,5%, trong khi lượng DN gặp khó khăn phải dừng hoạt động lại tăng cao, đến 14,4%.
Cùng với việc đi thực tế tại nhiều DN trên địa bàn TP.HCM, ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA), cho rằng, dù có dấu hiệu hồi phục nhưng tình hình DN vẫn còn nhiều khó khăn.
"Liệu họ có kịp hồi phục để có một cái Tết vẹn toàn cho người lao động? Lương, thưởng không chỉ là nỗi lo của DN mà còn của cả người lao động", ông Minh đặt vấn đề.
Với vai trò là Chủ tịch Hội Doanh nghiệp quận Tân Bình, ông Lê Trung Hoan, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Dệt May Thương mại Tấn Minh, chia sẻ, dù không thể thống kê một cách cụ thể, nhưng theo nhìn nhận từ phía Hội thì "nhiều DN đã rất yếu và gần như đứng yên".
Đặc biệt đối với các DN trong lĩnh vực bất động sản, dệt nhuộm, vật liệu xây dựng... hầu như chưa thấy dấu hiệu hồi phục. Khi bàn đến vấn đề thưởng Tết, ông Hoan cho biết, một DN có lãi khoảng 20% mới có thể chăm lo được việc trả lương tốt cho người lao động.
Mức lợi nhuận này hiện nay đối với nhiều DN là không thể. Bên cạnh đó, DN trong lĩnh vực sản xuất trả lương bằng ngày công. Theo quy định, một tháng có 26 ngày công, nếu người lao động làm việc vào ngày thứ 27 (không trùng ngày nghỉ), DN phải trả lương gấp đôi.
Nhìn từ khó khăn của DN hiện nay, ông Đặng Quốc Hùng, Giám đốc Công ty TNHH Thủ công Mỹ nghệ Kim Bôi, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cho rằng, vấn đề lương, thưởng còn là chuyện dài.
Dù muốn hay không muốn, DN cũng phải trả lương cho người lao động đúng với giá thị trường, mặt bằng lương chung của các DN trong ngành.
"Nếu trả lương thấp, người lao động sẽ bỏ đi chỗ khác ngay! Gánh nặng lương, thưởng vì thế càng trở thành áp lực cho các DN ngành gỗ mỹ nghệ, khi hàng hóa chưa giải quyết hết, đơn hàng mới vẫn chưa có”, ông Hùng nhận định.
Đồng thời, ông cũng kiến nghị cần xem xét lại chính sách lương, thưởng cho phù hợp với sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, cũng như mức độ lạm phát. Có như vậy thì mới mong cứu sống DN trong giai đoạn hiện nay.
Còn theo ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP.HCM, Giám đốc Công ty Đức Minh, thị trường trầm lắng nên các DN dừng các dự án đầu tư mở rộng, co cụm sản xuất, không dám để hàng tồn kho.
Ngoài ra, còn một số khó khăn khác ảnh hưởng đến DN như nếu tiếp tục tăng lương tối thiểu thì chỉ có DN gánh phí bảo hiểm xã hội mà người lao động không được hưởng lợi.

Khám phá chi tiết cú hích thị trường

Các doanh nghiệp cho biết, một trong những lý do để thị trường tăng trưởng là nhờ nỗ lực của các nhà sản xuất và phân phối. Các hãng xe đã liên tục tung ra nhiều chương trình kích cầu mua sắm, mà cụ thể là chương trình giảm giá. Trong đó, Nissan Việt Nam và các đại lý giảm giá đến 30 triệu đồng mẫu xe Nissan Sunny.
Tăng doanh số
Sau khi tăng trưởng ở tháng 9, thị trường tiếp tục tăng tốc trong tháng 10, đặc biệt là trong nửa cuối tháng khi Vietnam Motor Show 2013 diễn ra. Theo báo cáo của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tổng lượng xe bán ra trong tháng 10 đạt 10.282 chiếc, tăng 5% so với tháng 8/2013 và tăng 29% so với tháng 10/2012. Đây là tháng thứ 7 liên tiếp số xe bán ra của toàn ngành cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái và là tháng đầu tiên trong năm vượt mức 10.000 xe.
> Thị trường ô tô cuối năm sẽ nhỉnh hơn...
> Thị trường ô tô: Cung lụy cầu?
> Thị trường ô tô: "Vớt vát" mùa cuối năm
> Thị trường ô tô: Ngoại lấn nội
> Thị trường ô tô tăng trưởng mạnh vào cuối năm
> Thị trường ô tô Việt Nam: Hai xu thế phát triển?
> "Nóng máy" thị trường ô tô
Trong số xe bán ra, xe lắp ráp trong nước đạt 7.832 chiếc, tăng 2% so với tháng trước, số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc là 2.450 chiếc, tăng 17%. Nếu cộng dồn đến hết tháng 10, các thành viên VAMA đã bán được 75.766 xe, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, phân khúc xe đa dụng đạt 18.483 chiếc, tăng 46%; xe du lịch đạt 26.530 chiếc, tăng 29,8%; xe thương mại đạt 29.390 chiếc.
Các doanh nghiệp cho biết, một trong những lý do để thị trường tăng trưởng là nhờ nỗ lực của các nhà sản xuất và phân phối. Các hãng xe đã liên tục tung ra nhiều chương trình kích cầu mua sắm, mà cụ thể là chương trình giảm giá. Trong đó, Nissan Việt Nam và các đại lý giảm giá đến 30 triệu đồng mẫu xe Nissan Sunny.
GM Việt Nam có chương trình giảm giá dành cho giáo viên với mức giảm 5 triệu đồng cho tất cả các dòng xe. Vinastar giảm giá từ 10 - 40 triệu đồng, tùy các dòng xe. Mẫu xe Vios của Toyota cũng được giảm giá từ 25 - 30 triệu đồng. Thương hiệu xe KIA do Thaco KIA phân phối độc quyền giảm giá nhiều dòng xe với mức từ 10 - 50 triệu đồng/chiếc.
Nhưng một phần đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng doanh thu của các hãng xe là sự kiện triển lãm Vietnam Motor Show 2013. Với cuộc đổ bộ của hàng chục mẫu xe mới của 15 thương hiệu, gồm 8 thành viên của VAMA (Ford, GM, Hino, Toyota, Honda, Suzuki, Vinastar, Mercedes-Benz) và 7 thương hiệu xe nhập khẩu chính thức (Audi, BMW, Land Rover, Renault, Lexus, Nissan, Infiniti) đã góp phần giúp thị trường tăng trưởng. Theo thống kê của Ban tổ chức, chỉ trong 5 ngày, các doanh nghiệp tham gia triển lãm đã bán ra hơn 200 xe.
Tiếp tục tăng trưởng?
Thị trường ô tô đang đón nhận những tín hiệu khả quan
Về ngắn hạn, theo các nhà phân tích, thị trường sẽ tiếp tục tăng trưởng từ nay đến cuối năm. Vì thường vào thời điểm này, nhu cầu mua xe cao hơn các tháng khác trong năm. Với các chương trình khuyến mãi liên tục được tung ra cùng các mẫu xe mới được giới thiệu cộng thêm các mức thuế dành cho ô tô giảm là cơ hội tốt để thị trường ô tô tăng tốc. Với xu hướng phục hồi của ngành, doanh số cả năm nay vẫn tiếp tục được dự báo có thể đạt 109.000 xe so với dự báo 100.000 xe hồi đầu năm.
Theo thống kê, tỷ lệ sở hữu ô tô của người Việt hiện nay là 18 xe/1.000 dân, còn rất thấp so với các nước khác trong khu vực. Với 90 triệu dân, trong đó, khoảng 50% dân số dưới 30 tuổi là một thị trường đầy tiềm năng. Và mặc dù suy thoái kinh tế vẫn còn nhưng sức mua ngày càng tăng, thị hiếu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng đã mở ra hướng tích cực cho thị trường ô tô.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam đang tích cực tham gia và thực thi các hiệp định mậu dịch khu vực như AFTA... cũng sẽ giúp thị trường ô tô tăng trưởng. Vì theo lộ trình AFTA, đến năm 2018, thuế nhập khẩu xe từ các nước khu vực ASEAN sẽ bằng 0% và khi đó giá xe sẽ giảm mạnh. Ngoài ra, hạ tầng giao thông đang ngày càng hoàn thiện cũng là cơ sở để ngành này phát triển.
Theo các chuyên gia nước ngoài, Việt Nam đang bước vào giai đoạn "ô tô sẽ trở nên phổ biến hơn" và đến năm 2020 - 2025, tỷ lệ người sở hữu xe sẽ tăng lên 50 xe/1.000 dân. Khi đó, thị trường ô tô sẽ có quy mô gần gấp ba lần hiện nay với khoảng 250.000 - 300.000 ô tô tiêu thụ mỗi năm. Đây là con số lý tưởng khiến các hãng xe vẫn liên tục vào Việt Nam ngay từ bây giờ.