Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Chia sẻ với bạn bí ẩn thị trường nước

Ngân hàng Phát triển châu Á (ABD)đã cam kết cung cấp 1 tỉ USD cho Việt Nam để cải thiện hệ thống cung cấp nước giai đoạn 2011- 2020. Việt Nam cũng sẽ nhận được các khoản viện trợ ODA từ các quốc gia phát triển như Đan Mạch, Nhật để phục vụ cho kế hoạch nâng cấp của mình. Ngoài các công ty nhà nước chủ yếu đang được giao nhiệm vụ thực hiện dự án, một tin lạc quan nữa là Chính phủ dự tính sẽ triển khai mạnh mẽ các dự án theo mô hình hợp tác công tư (PPP). Một khi khuôn khổ PPP được luật hóa, cơ hội để cho các công ty tư nhân tham gia sẽ rộng mở hơn.
Sự kiện công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE) quyết định thành lập công ty con là Công ty cổ phần nước sạch Việt Nam (Viwic) với vốn điều lệ tới 650 tỉ đồng là một sự kiện rất đáng chú ý. Ngoài Viwic, REE cũng thông báo kế hoạch mua thêm 17% cổ phần của nhà máy cấp nước Thủ Đức để đưa tỈ lệ sở hữu tại công ty này lên 42%.
Hành động này của REE có thể xem là hợp lý khi dường như đang có một làn sóng đầu tư mới của khối ngoại vào thị trường nước Việt Nam.
Tỉ lệ thất thoát nước ở TP.HCM lên đến 36% do hệ thống cấp thoát nước cũ kỹ; tỉ lệ này ở Singapore là 5%, Nhật là 7%.
Ngoài những thương vụ mua cổ phần các công ty nước của nhà đầu tư Philippines và Singapore vài tháng trước thì mới đây nhất các công ty xử lý nước của Nhật như Metawater, TSS cũng được cho là sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua các dự án có sử dụng vốn ODA của Nhật tại Hà Nội.
Theo số liệu công bố từ Cục Hạ tầng Kỹ thuật thuộc Bộ Xây dựng, hiện vẫn còn đến 21,5% dân cư tại các đô thị trên cả nước chưa tiếp cận được nước sạch thông qua hệ thống cấp nước tập trung. Đa số người dân vẫn sử dụng nước giếng tự khoan hoặc từ các nguồn nước khác.
Mục tiêu Việt Nam đặt ra đến năm 2015 là 90% dân số ở các đô thị loại 3 trở lên dùng nước máy tập trung và điều này sẽ mở rộng cơ hội kinh doanh cho các công ty cung cấp nước sạch.
Nhu cầu sử dụng nước sạch tại Hà Nội
“Năm 2012 tỉ lệ thất thoát nước ở TP.HCM lên đến 36% do hệ thống cấp nước đã rất cũ kỹ. Nếu cải thiện được khâu vận chuyển này sẽ mang đến cơ hội cho các doanh nghiệp”, chuyên gia phân tích cao cấp của một công ty chứng khoán (không muốn nêu tên) nhận định.
Được biết, tỉ lệ thất thoát nước của Singapore chỉ là 5%, Nhật là 7%. Nếu so sánh với các quốc gia này thì quả thật Việt Nam đang rất lãng phí trong việc sử dụng một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất của nhân loại.
Có một điều nghịch lý là dù Việt Nam có khí hậu nhiệt đới với lượng mưa khá lớn, cũng như nằm ở hạ lưu của những con sông lớn như Mekong, sông Hồng nhưng theo đánh giá của tổ chức BMI, Việt Nam vẫn đối mặt với tình trạng hạn hán có tính chất chu kỳ nghiêm trọng.
Chẳng hạn, đợt hạn hán vào đầu năm 2010 được xem là tồi tệ nhất trong 100 năm qua, theo đánh giá của Tạp chí Time. Đợt hạn hán này diễn ra trên khắp cả nước là kết quả tác động đồng thời từ lượng nước thượng nguồn về thấp, xâm nhập mặn ở miền Nam và ảnh hưởng bởi hiện tượng El Nino ở miền Bắc. Đáng ngại hơn, các đợt hạn hán kiểu này nhiều khả năng sẽ gia tăng trong tương lai.
 Các công ty con và liên kết của REE trong lĩnh vực nước
Viễn cảnh khu vực cũng mang lại những lo ngại lớn khi ngày càng nhiều công trình thủy điện xây dựng ở thượng nguồn như trên sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc và Lào. Điều này sẽ tác động tiêu cực đến nguồn nước cung cấp cho các quốc gia ở vùng hạ lưu như Việt Nam.
Một yếu tố khác góp phần tạo cơ hội cho các doanh nghiệp là nhu cầu sử dụng nước sạch trong các năm tới sẽ tăng cao do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh ở các thành phố lớn, cũng như tình trạng ô nhiễm gia tăng.
Tính đến tháng 8/2012, chỉ có 61% các khu công nghiệp trên toàn Việt Nam xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Còn tại một đô thị lớn như Hà Nội, người dân vẫn phải phụ thuộc vào mạch nước ngầm để đáp ứng nhu cầu nước vì hệ thống cung cấp nước sạch cũ kỹ hiện không thể đáp ứng đủ.
Đặc biệt, đến năm 2020 nhu cầu nước sạch của Hà Nội được dự báo sẽ tăng gấp 3 lần hiện nay và chưa rõ Hà Nội sẽ làm gì để đáp ứng nhu cầu này.
Tựu trung lại, theo tính toán của BMI, từ năm 2012 đến 2015, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng hạ tầng nước Việt Nam có thể đạt mức trung bình 13%/năm. Riêng năm 2016, giá trị mà lĩnh vực này mang lại có thể tăng 60% so với năm 2015.
Đó có lẽ là miếng bánh ngon không hề nhỏ dành cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và cung cấp nước.
Có một điều đáng mừng cho các công ty tư nhân như REE khi tham gia xây dựng hạ tầng nước là có khá nhiều tổ chức tài chính quốc tế muốn tài trợ vốn cho các dự án nước ở Việt Nam.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ABD)đã cam kết cung cấp 1 tỉ USD cho Việt Nam để cải thiện hệ thống cung cấp nước giai đoạn 2011- 2020. Việt Nam cũng sẽ nhận được các khoản viện trợ ODA từ các quốc gia phát triển như Đan Mạch, Nhật để phục vụ cho kế hoạch nâng cấp của mình.
Ngoài các công ty nhà nước chủ yếu đang được giao nhiệm vụ thực hiện dự án, một tin lạc quan nữa là Chính phủ dự tính sẽ triển khai mạnh mẽ các dự án theo mô hình hợp tác công tư (PPP). Một khi khuôn khổ PPP được luật hóa, cơ hội để cho các công ty tư nhân tham gia sẽ rộng mở hơn.
Trên thực tế, mô hình PPP với sự tham gia của tư nhân đã được thử nghiệm tại các dự án ở TP.HCM như Nhà máy BOO Nước Thủ Đức, Nhà máy Nước Bình An, Nhà máy Nước sạch Cần Giờ, Chương trình Quốc gia Chống thất thoát nước sạch.
Ngoài lợi nhuận từ việc tham gia xây dựng hạ tầng, giá nước cũng là một yếu tố rất quan trọng thu hút các công ty tham gia vào lĩnh vực này. “Giá nước trong các năm qua đã tăng trung bình 10%/năm”, vị chuyên gia về ngành nước nói. Và nhiều khả năng, xu hướng tăng giá này sẽ được tiếp tục trong thời gian tới.
Cũng giống như điện, nước là mặt hàng thiết yếu mà Nhà nước đang phải trợ giá và với ngân sách có hạn Nhà nước sẽ giảm dần các khoản trợ giá. Điều này có thể sẽ khiến cho giá nước tăng mạnh trong thời gian tới.
Một tính toán của Bộ Xây dựng cho thấy hiện số tiền chi trả nước của người dân trung bình chỉ bằng 0,4% thu nhập bình quân theo đầu người, trong khi ở các quốc gia khác trong khu vực khi tỉ lệ này là 3-5%. Vì vậy “room” để nâng giá nước trong các năm tới là điều khó tránh khỏi.
Giá trị đầu tư hạ tầng ngành nước
Một khía cạnh thứ hai là cơ hội mua lại cổ phần của các công ty nhà nước trên thị trường này. Tính đến năm 2009, báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước vẫn thống lĩnh thị trường sản xuất và phân phối nước tại Việt Nam. 90% sản lượng nước cung cấp trên trên toàn quốc thuộc về khối doanh nghiệp nhà nước.
Tại TP.HCM, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) cùng các công ty con đang độc chiếm khâu phân phối nước trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, tính đến nay cũng đã có 35 trong tổng số 90 công ty cấp nước do Nhà nước sở hữu đã thực hiện cổ phần hóa.
Quay trở lại với trường hợp của REE, 9 tháng đầu năm nay, trong tổng lợi nhuận ròng 839 tỉ đồng mà REE đạt được, có đến 46% đến từ các công ty con và liên kết. Thành tích này nhiều khả năng sẽ góp phần đưa lợi nhuận năm nay của REE lần đầu tiên vượt qua con số 1.000 tỉ đồng.
Trong năm tới, theo bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị REE, các khoản đầu tư vào ngành điện và nước sẽ chiếm tới 60% lợi nhuận công ty này.
Tuy vậy, theo phân tích của vị chuyên gia phân tích từ công ty chứng khoán nói trên, khác với các nhà đầu tư nước ngoài như Manila Water có chuyên môn kỹ thuật ngành nước, REE chủ yếu thiên về đầu tư tài chính và gián tiếp hưởng lợi nếu các công ty mà REE đầu tư hoạt động tốt.
“Vì vậy không loại trừ khả năng REE sẽ thoái vốn trong các năm tới nếu nhận được suất sinh lợi phù hợp”, chuyên gia phân tích này nói.
Xây dựng lại hệ thống, nhu cầu tiêu thụ được mở rộng và giá được dự báo sẽ tăng mạnh trong tương lai là những yếu tố hấp dẫn các công ty gia nhập ngành, nhưng những rủi ro đi kèm không phải là không có. Điều này cũng thể hiện trên thực tế khi tính đến thời điểm hiện tại chỉ có số ít các công ty tư nhân và nước ngoài gia nhập ngành.
“Giá bán là một rủi ro cho các công ty tham gia vào lĩnh vực này”, vị chuyên gia này nói. Nước là mặt hàng thiết yếu, nhạy cảm và tác động lớn đến toàn bộ các hoạt động kinh tế và xã hội, đặc biệt là giữ ổn định vĩ mô kiềm chế lạm phát.
Việc tăng giá nước dù có lộ trình tăng theo định hướng thị trường nhưng nhìn chung vẫn do Nhà nước kiểm soát và điều này sẽ khó cho các công ty trong việc dự đoán được doanh thu.
Theo báo cáo của BMI, các nhà đầu tư tư nhân sẽ khó có khả năng quyết định giá bán mà điều này sẽ do Nhà nước quyết định, tương tự như hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra với tính thiếu hiệu quả của luật pháp, rủi ro cho các công ty tư nhân sẽ khó mà đoán định được.
Cản trở kế tiếp là Việt Nam vẫn thiếu các cơ chế thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Ví dụ, theo Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM, mặc dù các công ty tư nhân cũng được miễn giảm thuế khi đầu tư ngành này nhưng so với các doanh nghiệp nhà nước, họ vẫn thua thiệt khi không được tiếp cận với các khoản vay ưu đãi.
Tính thiếu rõ ràng trong khuôn khổ hợp tác PPP đối với ngành nước cũng là trở ngại lớn. Dù đã bắt đầu thử nghiệm cơ chế hợp tác PPP từ tháng 11/2010 nhưng cho đến nay những luật lệ riêng biệt dành cho từng ngành cụ thể, trong đó có ngành nước, vẫn chưa được hoàn tất.
Do đó, có lẽ còn quá sớm để nói rằng những công ty ngoài nhà nước như REE sẽ tiếp tục gặt hái được thành công trên thị trường nước như kịch bản màu hồng đã vẽ ra.

Sự việc đáng buồn: Bảo hộ mía đường, người dùng thiệt hại hàng ngàn tỷ

Như vậy, có thật sự là VSSA đang bảo vệ cho lợi ích của người trồng mía hay bảo vệ cho chính lợi ích của họ. VSSA phản đối HAGL, vì cho rằng nếu công ty này nhập khẩu đường thô vào sẽ giết nông dân, bởi hiện giá thành sản xuất đường ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước, nguyên nhân chính là do nông dân được bảo hiểm giá mua mía cao hơn các nước gấp hai, ba lần.
Trong suốt tuần qua, ngành mía đường Việt Nam trở thành tâm điểm của dư luận sau vụ Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) có ý định đưa 30.000 tấn đường thô từ Lào về tinh luyện rồi tái xuất sang Trung Quốc.
Mỗi năm, như tính toán, người tiêu dùng Việt Nam đang phải trả thêm hơn 4.000 tỉ đồng cho khoản chênh lệch giá đường.
Từ cuộc tranh cãi này, chính hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) đã xác nhận thông tin chỉ cần đưa trót lọt 30.000 tấn đường thô vào Việt Nam, sẽ kiếm được khoản lợi nhuận tương đương khoảng 80 tỉ đồng do ngành đường đang được bảo hộ, có chênh lệch giá khá lớn giữa đường nội địa và đường của các nước trong khu vực và thế giới.
Chính các nhà máy đường cũng thừa nhận giá đường tại Việt Nam cao hơn các nước là yếu tố quan trọng góp phần kích thích đường lậu tràn vào.
Số liệu thống kê từ VSSA cho thấy, đường lậu từ Thái Lan tuồn vào nội địa gia tăng đáng kể trong vài ba năm gần đây, từ 300.000 tấn năm 2011 lên 500.000 tấn năm 2012; và dự kiến năm nay chiếm khoảng gần 1/3 trong tổng số 1,6 triệu tấn đường tiêu thụ của cả nước.
Từ số liệu trên, có thể ước tính với sản lượng đường tinh luyện mà người tiêu dùng Việt Nam đang sử dụng trung bình mỗi năm 1,6 triệu tấn, tức là cần 1,648 triệu tấn đường thô, sẽ thấy phần thặng dư lợi nhuận mà các nhà máy đường bỏ túi là vô cùng lớn, hơn 4.320 tỉ đồng.
4.320 tỉ đồng, số tiền lợi nhuận kiếm được không phải từ nỗ lực trong cạnh tranh, mà nhờ vào chênh lệch giá đường trong nước cao hơn thế giới do chính sách bảo hộ mang đến.
Như vậy, có thật sự là VSSA đang bảo vệ cho lợi ích của người trồng mía hay bảo vệ cho chính lợi ích của họ. VSSA phản đối HAGL, vì cho rằng nếu công ty này nhập khẩu đường thô vào sẽ giết nông dân, bởi hiện giá thành sản xuất đường ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước, nguyên nhân chính là do nông dân được bảo hiểm giá mua mía cao hơn các nước gấp hai, ba lần.
Bảo hộ bất cứ một ngành nghề kinh tế nào cũng phải đạt được các mục tiêu hài hoà: có lợi cho người sản xuất, người tiêu dùng, doanh nghiệp và cuối cùng là lợi ích quốc gia. Vụ việc VSSA ra sức phản đối nhập khẩu khẩu đường vừa qua, phải chăng hàng triệu nông dân đang bị VSSA bắt làm con tin?
Cho rằng, VSSA đặt cao lợi ích nông dân trồng mía thì tổ chức này cũng phải có trách nhiệm với hàng chục triệu người tiêu dùng, đối tượng khách hàng chính của họ, có thể là bằng cách đầu tư cho nông dân tăng năng suất để cạnh tranh. Mỗi năm, như tính toán, người tiêu dùng Việt Nam đang phải trả thêm hơn 4.000 tỉ đồng cho khoản chênh lệch giá đường.
Chưa kể, chính sách bảo hộ đồng thời tạo ra giá đường trong nước cao còn dẫn đến hậu quả đường nhập lậu tràn vào, Nhà nước mất đi một khoản thu thuế và chi phí chống buôn lậu đường là chi phí mà người tiêu dùng đường phải trả.
Như vậy là không khó để có thể trả lời được câu hỏi đối tượng nào đang hưởng lợi từ chính sách bảo hộ ngành đường. VSSA có thể kêu ca về chính sách điều hành ngành mía đường thời gian qua trồi sụt, chưa đồng bộ, nhất quán; cây mía chưa được Nhà nước đầu tư đúng mức…
Nói đi thì phải nói lại, ngành mía đường Việt Nam phát triển hàng chục năm nay nhưng lại được bao cấp quá kỹ làm cho các nhà máy ỷ lại không mạnh dạn đổi mới, tiết giảm giá thành để có thể tự đứng bằng đôi chân của chính mình. Vụ HAGL có ý định nhập khẩu đường thô chỉ là giọt nước tràn ly, là bề nổi phản ánh tảng băng chìm về sự yếu kém cạnh tranh của cả ngành đường.
Giả sử không có vụ HAGL thì các nhà máy đường vẫn phải đối mặt với thực tế mỗi ngày có không dưới 1.000 tấn đường lậu từ Thái Lan tuồn qua, được bán với giá thấp hơn 2.000 – 3.000 đồng/kg so với đường nội địa. Người tiêu dùng, các doanh nghiệp sử dụng đường chế biến thực phẩm, hẳn không thể dành sự ưu ái lâu hơn nữa cho các nhà máy đường được nữa.

Thực tế sự việc doanh nghiệp Việt tự thua trên sân nhà

Theo ông Phạm Đức Bình, Việt Nam không có ưu thế do phụ thuộc nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, giá thành cao, không có công nghệ chế biến (gà) và không có đồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò quy mô lớn. Hiện tại, bò, gà ngoại nhập vào Việt Nam phải chịu thuế nhưng sản phẩm sản xuất trong nước đã không cạnh tranh lại về giá, sắp tới, các hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) có hiệu lực và có thể thêm TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) thì ngành chăn nuôi Việt Nam chắc chắn thua.
Không có nhiều ưu thế trong chăn nuôi công nghiệp, không được hỗ trợ cải thiện con giống, kỹ thuật..., các doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam chấp nhận đối mặt với cái chết được báo trước. 
Theo thống kê của Cục Thú y, từ đầu năm 2013 đến nay, Việt Nam nhập khẩu khoảng 81.000 tấn thịt gia súc, gia cầm. Dự kiến cả năm 2013 nhập tổng cộng 90.000 tấn.
Lượng thịt gia cầm nhập khẩu chiếm khoảng 70%, tương đương 57.000 tấn. Tổng số trâu bò nhập khẩu để giết mổ làm thực phẩm trong năm nay ước khoảng 151.611 con.
Tràn ngập siêu thị
Thịt bò Úc được bán rất nhiều ở các siêu thị, đánh bạt thịt bò nuôi trong nước nhờ giá rẻ, thịt ngon hơn
Thịt bò Úc hiện đã phủ khắp hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại TP HCM như Co.opmart, Co.opFood, SatraMart, SatraFood, Maximark, Vinatex, hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Vissan... Khảo sát tại Co.opmart Phú Mỹ Hưng (quận 7) cuối tuần qua cho thấy giá thịt bò Úc chỉ nhỉnh hơn thịt bò nội từ 2% - 3%.
Tại hệ thống siêu thị Big C, Co.opmart..., thịt bò Úc cũng tiêu thụ khá mạnh. Theo các siêu thị, mức chênh lệch vài chục ngàn đồng/kg nhưng ngon hơn, mềm hơn đã kéo lượng lớn người tiêu dùng bỏ bò Việt, chuyển sang mua thịt bò Úc.
Không chỉ tiêu thụ mạnh ở kênh siêu thị, cửa hàng thực phẩm, thịt bò Úc được rao bán khá rầm rộ trên các trang mạng. Nhiều hệ thống nhà hàng, quán ăn cũng dán thông báo dùng 100% bò nhập khẩu cho món ăn của mình.
Ngoài Công ty Trung Đồng trực tiếp nhập khẩu bò Úc, giết mổ và phân phối ra thị trường, từ tháng 9, Công ty Vissan cũng giết mổ và bán ra thị trường một lượng lớn bò Úc.
Theo ông Văn Đức Mười, Tổng Giám đốc Công ty Vissan, trung bình mỗi tháng Vissan giết mổ khoảng 1.500 con bò Úc (trọng lượng 500 kg/con).
Sau hàng loạt thông tin về thịt gà dai (gà thải loại từ Trung Quốc, Hàn Quốc) không đạt chất lượng dinh dưỡng và tồn dư nhiều chất kháng sinh vượt mức cho phép, gà thải loại vẫn đang được bán tại một số siêu thị, chợ ở TP HCM.  Mặt hàng đùi, cánh gà nhập khẩu tạm lắng do gà trong nước giá giảm mạnh nhưng có khả năng được đưa vào thị trường Việt Nam bất cứ lúc nào.
Bà Phạm Ngọc Hà, Giám đốc Công ty TNHH San Hà, cho biết công ty đang tạm ngưng nhập đùi, cánh gà. Trước đây, mặt hàng này được nhập từ Mỹ về, sau khi cộng hết các chi phí và lợi nhuận, giá bán ra thị trường rẻ hơn gà giết mổ trong nước từ 5.000 - 10.000 đồng/kg.
Thua, lỗ là tất yếu
Theo ông Văn Đức Mười, hiện tổng đàn bò vàng trong nước khoảng 6 triệu con, được chăn nuôi theo hộ gia đình rải rác từ cao nguyên đến đồng bằng, không đủ sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hằng ngày, nhất là tại các đô thị lớn.
Lâu nay, các doanh nghiệp vẫn nhập khẩu bò sống từ Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar qua đường cửa khẩu biên mậu với số lượng lớn nhưng bị “nội địa hóa nhanh” nên nhiều người không nhận ra bò nhập.
Nguồn hàng này có giá không ổn định và thường xuyên bị thương lái bơm nước nên không bảo đảm chất lượng. Do đó, việc chuyển sang nhập bò chính ngạch từ Úc thay thế dần bò nhập qua đường mậu biên là điều tất yếu.
Bò Úc được nhập khẩu chính ngạch là bò sạch. Một lợi thế khác là bò Úc trọng lượng lớn, khoảng 500 kg/con, tỉ lệ thịt sau giết mổ là 55% trong khi bò vàng trọng lượng chỉ khoảng 250 kg và tỉ lệ thịt sau giết mổ chỉ 50%.
Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam, ông Nguyễn Đăng Vang, cho biết theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp Úc, từ đầu năm đến nay, nước này xuất sang Việt Nam khoảng 36.000 con bò sống, trị giá tương đương 24 triệu USD, trọng lượng trung bình từ 350 - 500 kg/con, với giá bò hơi khoảng 2 USD/kg.
“Nếu cộng các chi phí vận chuyển, thuế, hao hụt..., giá thành khoảng 2,4 USD/kg thì giá bán lẻ trên thị trường là phù hợp, không có dấu hiệu bán phá giá. Bởi Úc, Mỹ, Canada đặc biệt có lợi thế trong chăn nuôi bò nên giá thành thấp” - ông Nguyễn Đăng Vang nói.
Ở lĩnh vực chăn nuôi gia cầm, chủ một trang trại nuôi gà ở Đồng Nai cho biết hiện giá gà công nghiệp lông trắng xuất chuồng chỉ 26.000 - 27.000 đồng/kg nhưng ít người mua.
Gà đến lứa xuất chuồng, tính sơ tiền cám là 24.000 đồng (12.000 đồng/kg), con giống 10.000 đồng, chưa kể lương công nhân, điện, nước... Vì vậy, với giá bán dưới 30.000 đồng/kg, người nuôi lỗ nặng.
Giám đốc một nhà máy chế biến thực phẩm ở Đồng Nai cho biết trước đây đơn vị ông cũng đầu tư nuôi gà nhưng giá gà lên xuống bấp bênh nên đã dẹp chuồng trại, tập trung nuôi heo.
Vị này cho biết thêm tại một số nước có ngành công nghiệp chăn nuôi tiên tiến, tỉ lệ tiêu tốn thức ăn chỉ từ 1,2 - 1,6 kg/kg tăng trọng nên giảm được giá thành đáng kể, trong khi ở Việt Nam là từ 2 kg thức ăn/kg tăng trọng trở lên.
Khó lật ngược tình thế
Thực trạng hiện tại báo hiệu một tương lai khá u ám cho ngành chăn nuôi. Theo giới chuyên môn, một khi Việt Nam gỡ bỏ thuế quan theo lộ trình hội nhập, sản phẩm chăn nuôi các nước sẽ ồ ạt vào Việt Nam với giá rẻ hơn.
Khi đó, nếu vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm được kiểm soát tốt, người tiêu dùng sẽ có cơ hội sử dụng sản phẩm chất lượng, giá rẻ nhưng ngược lại, ngành chăn nuôi trong nước sẽ... chết.
Ông Phạm Đức Bình, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Đông Nam Bộ, cho rằng tương lai phá sản ngành chăn nuôi gà, bò là khó tránh khỏi. Đó cũng là cái giá phải trả cho việc hội nhập sân chơi quốc tế.
Theo ông Phạm Đức Bình, Việt Nam không có ưu thế do phụ thuộc nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, giá thành cao, không có công nghệ chế biến (gà) và không có đồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò quy mô lớn. Hiện tại, bò, gà ngoại nhập vào Việt Nam phải chịu thuế nhưng sản phẩm sản xuất trong nước đã không cạnh tranh lại về giá, sắp tới, các hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) có hiệu lực và có thể thêm TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) thì ngành chăn nuôi Việt Nam chắc chắn thua.
“Do tập quán tiêu dùng, đùi, cánh gà là hàng thứ phẩm của các nước nhưng lại là hàng chính phẩm của Việt Nam. Vì là hàng thứ phẩm nên giá bán rất rẻ. Cánh, đùi gà nhập vào Việt Nam chỉ khoảng 0,85 USD/kg, cộng cả thuế 18% - 20% vẫn chưa đến 20.000 đồng/kg, rẻ hơn cả gà sống bán tại trại chăn nuôi trong nước.
Đến năm 2018, theo cam kết AFTA, thuế nhập khẩu về 0%, giá bán các mặt hàng đùi, cánh gà đông lạnh sẽ rẻ hơn nữa, ngành chăn nuôi gà lông trắng Việt Nam không tránh khỏi xóa sổ. Chúng ta chỉ có thể lật ngược tình thế khi doanh nghiệp xuất khẩu ức gà sang các nước và dành đùi, cánh tiêu thụ trong nước. Nhưng đây là việc cực kỳ khó” - ông Phạm Đức Bình nói.
Nhìn lại mình 
Ông Văn Đức Mười cho rằng đến năm 2015, các sản phẩm chăn nuôi từ các nước nhập vào Việt Nam sẽ nhiều hơn, ngành chăn nuôi trong nước muốn cản cũng không được. Vì thế, đây là lúc để ngành chăn nuôi nhìn lại mình, làm sao để tăng được tính cạnh tranh thay vì “so bì” tại sao sản phẩm từ các nước có lợi thế hơn. Đối với đàn bò, cần cải thiện từ con giống cho đến công nghệ chăn nuôi và nó đòi hỏi thời gian không thấp hơn một thập kỷ.
Theo ông Phạm Thanh Hùng, Phó Giám đốc Công ty Ba Huân - đơn vị vừa tham gia phân phối mặt hàng thịt gà - lẽ ra trước lộ trình cắt giảm thuế, từ những năm trước, nhà nước phải có tầm nhìn và ủng hộ phát triển nông nghiệp trong nước thông qua các giải pháp như hạ lãi suất, quy hoạch vùng chăn nuôi, hỗ trợ đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật... Trong điều kiện Việt Nam chăn nuôi nhỏ lẻ còn nhiều, thức ăn chăn nuôi nhập khẩu giá cao, lãi suất chưa hạ, doanh nghiệp không đủ lực để đầu tư nên khó có thể giảm giá thành chăn nuôi để cạnh tranh.

Xoay như chong chóng của doanh nghiệp xuất khẩu

"Đại gia" cà phê Thái Hòa được xem là điển hình của tình trạng nợ nần mà DN trong ngành đang đối mặt. Trong báo cáo tài chính cho thấy THV có vốn điều lệ 550 tỉ đồng nhưng các khoản vay và nợ ngắn hạn lên tới 676,7 tỉ đồng, vay nợ dài hạn 14,2 tỉ đồng và chỉ tính riêng trong năm 2011, Thái Hòa phải trả lãi vay 72,3 tỉ đồng, tức cao gấp 3,5 lần số tiền mà công ty này làm ra.
May mặc: Xoay xở tứ bề
Trong khi DN xuất khẩu đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ các nước Banglades, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Campuchia thì DN kinh doanh nội địa lại bị siết giữa hai "gọng kìm": hàng Trung Quốc và hàng giả, hàng nhái của các cơ sở nhỏ trong nước!
Đến thời điểm này, Công ty Minh Long Hưng đã tồn kho đến 10 tỷ đồng (cao hơn năm ngoái đến 4 tỷ đồng) nhưng có khả năng số hàng tồn sẽ tăng lên 12 tỷ đồng vào dịp cuối năm.
Nghĩa là lượng "hàng nằm kho" của Công ty năm nay cao gấp đôi so với năm ngoái. Với một DN nhỏ kinh doanh hàng thời trang trẻ em như Minh Long Hưng thì đây quả là số tiền không nhỏ khi mùa hàng Tết đang về.
Ông Lý Thành Sinh, Giám đốc Công ty Minh Long Hưng, cho biết, hàng của Minh Long Hưng là hàng thời trang trẻ em mùa Hè nhưng năm nay, các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên mưa nhiều, còn miền Bắc lại lạnh sớm nên không bán được.
Đã vậy, tình trạng làm giả, làm nhái của các cơ sở nhỏ trong nước cũng khiến Minh Long Hưng khốn đốn. "Hễ sản phẩm của Minh Long Hưng có mặt ở đâu thì hàng giả, hàng nhái xuất hiện ở đó. Hàng giả, hàng nhái đã làm giảm doanh thu của Công ty từ 25% - 30%", ông Sinh cho biết.
Không những thế, dù đã tiết giảm mọi chi phí để có giá bán thấp nhất nhưng Minh Long Hưng cũng gặp khó khi đối diện với hàng Trung Quốc giá rẻ đang tràn ngập thị trường.
Doanh số sụt giảm, hàng tồn kho tăng buộc Minh Long Hưng phải cho nghỉ việc khoảng 20% lao động, chỉ giữ lại những người giỏi và những vệ tinh mạnh.
Nếu căn cứ thực tế sản xuất, Minh Long Hưng sẽ phải giảm nhiều hơn số lượng lao động, tuy nhiên, ông Sinh vẫn phải "nuôi quân" để có công nhân cho năm sau. Vì ngành may cần nhiều lao động, nếu cho công nhân nghỉ nhiều khi DN khó khăn thì vào đầu năm sau sẽ không có người làm.
Tuy không phải giảm lao động như Minh Long Hưng nhưng Công ty TNHH TM-SX Hương Mi (Hami) cũng giảm 20 - 30% doanh thu so với năm trước. Ông Trần Bá Dũng, Phó giám đốc Hami, cho biết, vào thời điểm năm ngoái, túi cặp học sinh còn bán lai rai nhưng năm nay không bán được, số lượng hàng trả lại từ các đại lý khá nhiều.
Nhóm sản phẩm ba lô, túi xách du lịch cũng ế vì ảnh hưỡng bão lũ. Mặc dù đã thực hiện các chương trình giảm giá, khuyến mãi nhưng hai tháng qua, sức mua vẫn không tăng.
Hiện Hami đang "đánh vật" với hàng nhái, giả vì những sản phẩm này đã len lỏi vào hệ thống phân phối của Công ty. Ông Dũng cho biết, với giá rẻ hơn, chiết khấu cao hơn lại cho nợ thanh toán dài hơn nên các nhà bán lẻ không ngần ngại thay hàng Hami bằng hàng nhái. Đó là một nổi lo mà Hami chưa giải quyết được.
Hiện "công nghệ nhái" của các cơ sở nhỏ này rất tinh vi, có thể làm ra những sản phẩm y chang Hami mà ngay cả nhân viên Công ty cũng khó phân biệt được. "Hàng nhái không chỉ ảnh hưởng đến thị phần mà còn làm giảm sức mua và niềm tin của người tiêu dùng vào thương hiệu Hami", ông Dũng nói.
Khó khăn là thế nhưng Hami vẫn phải sản xuất để duy trì 200 công nhân, chuẩn bị cho mùa kinh doanh "tựu trường" năm sau. Hàng tồn kho nhiều, thiếu vốn quay vòng kinh doanh nhưng các DN vẫn không thể vay ngân hàng vì thủ tục khó khăn.
Ngân hàng thì đòi tài sản thế chấp nhưng khi mang nhà xưởng, máy móc... để thế chấp thì thủ tục rất nhiêu khê. Đã vậy, định giá tài sản của ngân hàng rất thấp trong khi lãi suất cho vay cao.
Vì vậy, dù đã có gần 25 năm sản xuất, kinh doanh mặt hàng này nhưng "Mình phải tự xoay xở, khả năng tới đâu làm tới đó chứ không vay vốn ngân hàng", ông Sinh cho biết.
Bà Nguyễn Thị Điền, Tổng giám đốc Công ty May Thêu Đan Giày An Phước, cho biết, đó là tình hình chung của các DN may mặc trong nước. Bởi, "tất cả các chi phí đầu vào tăng trong khi sức mua ngày càng giảm.
Ngoài những khó khăn chung về sản xuất, hiện tại, vấn đề chi phí vận hành, trong đó, chi phí thuê mặt bằng rất cao cũng làm cho ngành thời trang Việt Nam khốn khó.
DN phải tốn rất nhiều chi phí, trong khi hàng Trung Quốc tràn ngập các cửa hàng đa số là tiểu ngạch, không phải chịu bất cứ chi phí gì!". Khó là vậy nhưng các DN lại phải chuẩn bị đối diện với đợt tăng lương mới.
Các ngành khác ít ảnh hưởng nhưng ngành may đông công nhân nên nguồn quỹ lương cho người lao động mỗi khi tăng lương không phải là nhỏ. Rồi chuyện lương, thưởng Tết cũng khiến DN thêm nhiều lo toan.
Trong khi DN kinh doanh nội địa khó với hàng tồn kho, hàng giả, hàng nhái thì DN xuất khẩu lại gặp khó khi phải cạnh tranh với các nước xuất khẩu hàng dệt may như Ấn Độ, Banglades, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Campuchia.
Là một trong 5 thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với gần 4.000 DN, thu hút 2,5 triệu lao động nhưng ngành vẫn đối diện với nhiều bất ổn.
Năm 2012, ngành đã tạo doanh thu gần 20 tỷ USD (chiếm 15% GDP cả nước), 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu đạt 14,8 tỷ USD (tăng 17% so với cùng kỳ 2012) nhưng cạnh tranh với các nước xuất khẩu may mặc khác trên thế giới là một bài toán khó khăn của DN Việt Nam.
Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP May Sài Gòn 3, cho biết, trong khi lương công nhân ở Campuchia chỉ ở mức 50 USD/người/tháng, Bangladesh 60 - 70 USD/người/tháng thì lương công nhân Việt Nam là 250 USD/người/tháng.
"Lương công nhân ở Việt Nam quá cao sẽ làm giảm tính cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác. Khi thị trường bình thường sẽ không có vấn đề nhưng khi thị trường chững lại thì chuyện cạnh tranh giá cả hoàn toàn không đơn giản", ông Hồng nói.
Khi không thể cạnh tranh với các nước bằng giá nhân công, các DN đành trông chờ vào lợi thế khi Việt Nam tham gia Hiệp định Hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Khi đó, thuế xuất nhập khẩu vào một số thị trường sẽ bằng 0% sẽ giúp DN gia tăng hơn nữa sự hiện diện của mình trên bản đồ may mặc thế giới.
Thế nhưng, để hưởng được thuế suất 0%, các DN dệt may phải áp dụng công thức "từ sợi trở đi". Điều đó có nghĩa là các khâu sản xuất từ kéo sợi, dệt - nhuộm - hoàn tất và may phải làm được tại Việt Nam. Đây là một cái khó cho DN, vì đến nay, hầu hết nguyên liệu may mặc ở Việt Nam chủ yếu nhập từ nước ngoài và 88% trong số đó nhập từ các nước không nằm trong khối TPP.
Thủy sản: Vô phương chạy vạy
Bên cạnh một số cơ hội mới mở ra thì những khó khăn đối với các DN xuất khẩu thủy sản trong những tháng cuối năm vẫn còn rất khắc nghiệt.
Hai tháng trước, Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) ra tuyên bố ngành sản xuất tôm Mỹ không bị thiệt hại bởi tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Do vậy, các DN Việt Nam không những sẽ không bị áp thuế chống trợ cấp mà Bộ Thương mại Mỹ (DOC) ban hành mà sẽ còn được hoàn lại tiền thuế ký quỹ từ quyết định sơ bộ trước đó.
Đây được xem là kỳ tích hiếm hoi trong lịch sử kiện chống trợ cấp của các DN thủy sản, cụ thể là ngành tôm Việt Nam. Điều này đã trở thành cơ hội cho DN Việt mở rộng thị phần xuất khẩu tại thị trường Mỹ.
Ông Trần Văn Lĩnh, Tổng giám đốc Công ty CP Thủy sản và Thương mại Thuận Phước, chia sẻ: "Khi nhận được thông tin, nhiều DN xuất khẩu thủy sản thấy như trút được gánh nặng. Kể từ khi Mỹ áp thuế chống bán phá giá lần đầu tiên năm 2004, gần chục năm rồi tôm Việt Nam mới được "minh oan" và còn thoát khỏi thuế chống trợ cấp".
Song trên thực tế, đây chỉ là một trong số rất nhiều "nút thắt" cần phải gỡ cho các DN trong ngành như vốn, nguyên liệu, thị trường, chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, thuế... Chẳng hạn, việc tăng mức thuế suất nhập khẩu của một số mặt hàng thủy sản cũng đang khiến nhiều DN đứng ngồi không yên.
Dù kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng cao, 9 tháng đầu năm 2013 đạt 4,7 tỷ USD, dự kiến sẽ đạt khoảng 6,5 tỷ USD vào cuối năm 2013, nhưng với mức tăng thuế suất nhập khẩu như Bộ Tài chính dự kiến, sản xuất, xuất khẩu của DN thủy, hải sản sẽ còn gặp khó khăn hơn, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Xuất khẩu cá tra trong quý III/2013 đạt 424 triệu USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tổng xuất khẩu 9 tháng đạt gần 1,3 tỷ USD, giảm 1,4%. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của cá tra trong lĩnh vực thủy sản bị sụt giảm từ 28,6% xuống còn 26,5%.
Theo ông Lĩnh, nếu không có sự hỗ trợ hoặc hợp lực tạo sự khép kín trong ngành, thì DN ngành thủy sản khó "có cửa" cho các DN nhỏ tồn tại. Bên cạnh đó, hàng loạt ảnh hưởng của những đợt bão vừa qua cũng đã để lại nhiều hệ lụy cho các DN "còn sống" đến thời điểm này.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hải sản giảm mạnh hơn so với dự đoán của nhiều DN, trong đó có nguyên nhân là thiếu nguyên liệu.
Nhiều DN buộc phải chọn phương án nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu do nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng khoảng 30% công suất của nhà máy.
Thế nhưng, chính sách, thủ tục hải quan rắc rối đã khiến DN đang có nhu cầu khó tiếp cận được nguồn nguyên liệu mới. Nếu tiếp cận được thì đơn vị phải tốn phí lưu kho dài ngày tại cảng, làm chi phí sản xuất đội lên nhiều.
"Thực tế của các DN hiện nay là làm cũng chết mà không làm cũng chết. Tình hình còn trì trệ hơn khi gần đây, các DN trong nước còn bị thương lái Trung Quốc tranh mua tôm các loại với mức giá cao", ông Lĩnh than.
Cà phê: Loay hoay tám hướng
Hơn một năm trước, hàng loạt đơn vị kinh doanh cà phê nhỏ lẻ lần lượt "chết yểu". Còn bây giờ, ngay cả các công ty lớn trong ngành cũng lâm vào cảnh "chết dở" vì nợ quá hạn hàng ngàn tỷ đồng.
"Đại gia" cà phê Thái Hòa được xem là điển hình của tình trạng nợ nần mà DN trong ngành đang đối mặt. Trong báo cáo tài chính cho thấy THV có vốn điều lệ 550 tỉ đồng nhưng các khoản vay và nợ ngắn hạn lên tới 676,7 tỉ đồng, vay nợ dài hạn 14,2 tỉ đồng và chỉ tính riêng trong năm 2011, Thái Hòa phải trả lãi vay 72,3 tỉ đồng, tức cao gấp 3,5 lần số tiền mà công ty này làm ra.
Ông Nguyễn Văn An, Tổng giám đốc Thái Hòa thừa nhận thua lỗ, nợ nần hiện nay của Thái Hòa là do sử dụng nguồn vốn sai mục đích, sử dụng vốn ngắn hạn vào đầu tư dài hạn mà chủ yếu là trồng cà phê và cao su.
Nhưng còn những khó khăn khác dắt dây những khoản nợ khổng lồ của DN trong ngành. Theo ông Nguyễn Công Thành, Giám đốc Công ty Inexim Lâm Đồng (Đức Trọng, Lâm Đồng), đơn vị chân rết, phụ trách thu mua cà phê nguyên liệu cho Công ty CP XNK Đắk Lắk, các DN cà phê đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do không mua được hàng.
Nguyên nhân không cạnh tranh lại với các DN nước ngoài vì giá mua thấp. Điều này xuất phát từ các chi phí đầu vào cao, do áp lực từ lãi suất ngân hàng đã khiến nhiều DN điêu đứng. Ngay như Inexim Lâm Đồng, cũng rất khó thu mua đủ mức chỉ tiêu mà phía Đắk Lắk đặt ra vào mỗi vụ.
Thực tế, DN cà phê gặp khó khăn chủ yếu là DN kinh doanh thuần túy thương mại. Nguyên nhân những DN này không chủ động được vùng nguyên liệu. Vì vậy mặc dù giá cà phê tương đối ổn định nhưng các DN kinh doanh thuần túy, nếu không vượt qua được áp lực tài chính thì cũng khó tồn tại.
224 ngàn tấn
Niên vụ cà phê 2012/2013, do bất lợi về thời tiết nên năng suất và sản lượng đều giảm so với niên vụ trước: năng suất bình quân đạt gần 22 tạ/ha, cà phê nhân xô đạt hơn 410 nghìn tấn, giảm 15%. Cả niên vụ, Đắk Lắk chỉ xuất khẩu được hơn 224 ngàn tấn, giá trị kim ngạch hơn 460 triệu USD, thấp nhất trong vòng 5 năm qua cả về lượng và giá trị kim ngạch. Dự kiến niên vụ 2013/2014, sản lượng cà phê Đắk Lắk đạt hơn 430 nghìn tấn, xuất khẩu khoảng 300 ngàn tấn.
Ông Công Thành cho rằng, phần lớn các DN trong nước phải vay và chịu lãi suất rất lớn (từ 18% - 20%/năm) dẫn đến nần ngày càng tăng. Thứ hai, nguồn lực tài chính của hầu hết DN cà phê trong nước đều rất thấp.
Nhưng do không chủ động được vùng nguyên liệu mà phải thu mua lại từ những đại lý nhỏ hơn và số ít người nông dân, giá cà phê lên xuống thất thường nên cũng có nhiều DN đã ký hợp đồng mua hàng với người dân nhưng vẫn không mua được hàng do giá cao.
Xét ở khía cạnh nào đó, việc tăng giá thu mua là hoàn toàn có lợi cho người trồng cà phê, nhưng nếu không có giải pháp hợp lý thì thị phần cà phê Việt sẽ hoàn toàn rơi vào tay khối ngoại.
Do vậy, nhiều DN cho rằng, để không mất thị phần, các DN Việt Nam cần phải liên kết và đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu đến các nông hộ, có như vậy mới mong cứu vãn tình thế.
Bởi lẽ người nông dân vốn dĩ chịu thiệt thòi rất nhiều trong sản xuất và tiêu thụ, vì vậy họ chỉ chấp nhận bán nông sản của mình cho nơi mà họ được đãi ngộ tốt.
Hồi đầu năm, nhiều dự báo khả quan về tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam, dự kiến sẽ đạt khoảng 131 tỷ USD, tăng khoảng 14% so với năm 2012 và cao hơn 4% so với chỉ tiêu đề ra năm 2013.
Trái lại, tới thời điểm này, chứng kiến sự suy giảm đồng loạt của nhiều mặt hàng, trong đó có cà phê, với mức dự báo sụt giảm cao nhất, khoảng 24% so với những mặt hàng nông sản có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Trước thực tế hết sức nghiêm trọng này của ngành cà phê, bài toán được đặt ra là có nên thanh lọc và hạn chế lượng DN xuất khẩu cà phê?
Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), hiện nay cả nước có đến 200 DN tham gia xuất khẩu cà phê. Số lượng DN như vậy là quá nhiều trong khi nguồn hàng không ổn định.
Theo ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Vicofa, Chính phủ và các DN cần có chính sách khuyến khích tăng tiêu thụ cà phê trong nước qua các kênh truyền thông. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, chế biến cà phê tiêu dùng quy mô nhỏ.
Đặc biệt, nên có chính sách hỗ trợ những dự án xây dựng nhà máy cà phê tiêu dùng quy mô lớn. Điều này không chỉ tạo được lực cầu bảo hộ giá cho cà phê Việt Nam, mà còn có thể giúp DN tránh được thực trạng bị ép giá do xuất khẩu cà phê thô như hiện nay.

Thú vị với sự việc bất động sản du lịch: Resort thắng lớn

Đây là dấu son cho du lịch MICE của Đà Nẵng, tạo thương hiệu và lọt vào mắt các nhà tổ chức sự kiện quốc tế như một thành phố du lịch có một hệ thống dịch vụ được chuẩn hóa: cảng và nhà ga hàng không có dịch vụ không lưu và mặt đất chuẩn, sân bay có 47 chuyến bay quốc tế và 247 chuyến bay nội địa/tuần; các khu nghỉ dưỡng ven biển được đầu tư nhiều biệt thự sang trọng có các tập đoàn du lịch nước ngoài quản lý, khai thác, nhiều đầu bếp từng được phong danh hiệu Vua bếp trong ngành ẩm thực châu Âu, nhiều sân golf kề cận, dịch vụ taxi trực thăng ngắm cảnh luôn sẵn sàng.
Biểu đồ mức doanh thu phòng bình quân của các resort 4 - 5 sao ven biển liên tục tăng trong năm 2012 và tăng vọt trong năm 2013. Ông Adam Bury, Phó giám đốc Thị trường vốn của Công ty CBRE cho biết, năm 2013 có diễn biến khá bất ngờ là bình quân giá phòng và công suất phòng của các khách sạn 5 sao ven biển tại Đà Nẵng cao hơn hẳn TP.HCM và Hà Nội, và hiện tại bình quân giá phòng khách sạn 5 sao ven biển Đà Nẵng - Hội An đang đạt mức cao nhất tại Việt Nam, có mức tăng thêm 3,6% trong năm 2013.
Với 3.800 phòng hạng 4 - 5 sao, công suất phòng luôn ở mức 70 - 80% là kết quả khá bất ngờ trong mắt các nhà đầu tư bi quan vì tình hình kinh tế khó khăn.
Những thay đổi lớn đã tạo nên "thương hiệu" mới cho khu vực này trên bản đồ du lịch Việt Nam. Mới đây người ta chứng kiến cảnh chuyên cơ các tỉ phú của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đổ xuống sân bay Đà Nẵng để dự hội nghị tài chính thế giới.
Địa điểm được lựa chọn tổ chức hội nghị là một resort nổi tiếng tại bán đảo Sơn Trà với 4 ngày đêm phục vụ hơn 100 khách VIP hàng đầu thế giới tài chính, chính khách và các nhà báo quốc tế.
Đây là dấu son cho du lịch MICE của Đà Nẵng, tạo thương hiệu và lọt vào mắt các nhà tổ chức sự kiện quốc tế như một thành phố du lịch có một hệ thống dịch vụ được chuẩn hóa: cảng và nhà ga hàng không có dịch vụ không lưu và mặt đất chuẩn, sân bay có 47 chuyến bay quốc tế và 247 chuyến bay nội địa/tuần; các khu nghỉ dưỡng ven biển được đầu tư nhiều biệt thự sang trọng có các tập đoàn du lịch nước ngoài quản lý, khai thác, nhiều đầu bếp từng được phong danh hiệu Vua bếp trong ngành ẩm thực châu Âu, nhiều sân golf kề cận, dịch vụ taxi trực thăng ngắm cảnh luôn sẵn sàng.
Đầu tư nhiều cho khách du lịch MICE là hướng đi tập trung của các resort ven biển trong tình hình khó khăn kéo dài về thị trường du lịch thế giới. Các hội nghị của tổ chức quốc tế, tập đoàn đa quốc gia là "mối hàng" được chào mời bằng các chính sách đặc biệt về dịch vụ để lôi kéo.
Ở khu vực này, các resort và khách sạn 4 - 5 sao đã chung tay lập hiệp hội du lịch biển liên kết quảng bá, kéo các hội nghị lớn, các giải thi đấu golf quốc tế mỗi cuối tuần.
Trong lúc đó, các khách sạn từ cao cấp đến bình dân tại trung tâm thành phố rất chật vật tìm cách tồn tại. Biểu đồ của CBRE đưa ra hình sin giá phòng và công suất sử dụng khách sạn 4 - 5 sao ở trung tâm thành phố Đà Nẵng tiếp đà chúc đầu xuống liên tục trong 3 năm liên tiếp, với công suất phòng từ 20 - 40%.
Mức giá phòng khách sạn 4 - 5 sao tại trung tâm thành phố thấp đến mức khó tin. Các dịch vụ ẩm thực, cà phê có giá ngang với các nhà hàng hạng trung.
Cạnh tranh của khách sạn trong phố rất khốc liệt khi nguồn cung toàn thị trường tăng xấp xỉ 1.000 phòng/năm hạng 3 - 5 sao. Hàng trăm khách sạn 1-2 sao do các nhà đầu tư đến từ Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng xây dựng nhanh chóng mọc lên trong 3 năm qua dọc tuyến cận biển và trung tâm.
Mới đây Sở Văn hóa - Thể Thao và Du lịch Đà Nẵng đã lên tiếng báo động về hiện tượng cung đã vượt cầu ở phân khúc khách sạn 1-2 sao, khuyến cáo các nhà đầu tư thiếu định hướng nên dừng các dự án khách sạn nhỏ.
Một chủ khách sạn nhỏ trên phố cận biển cho biết, loại khách sạn này hoàn toàn vắng khách từ tháng 9 đến hết tháng 4, nên nguồn thu từ khách mùa hè không đủ trang trải nếu nguồn vốn đầu tư phần lớn vay từ ngân hàng.
Cũng có nhà tư vấn phán đoán đây là thời điểm tốt để mua rẻ các khách sạn 1 - 2 sao trong phố, do các ông chủ không chịu nổi lãi vay và chi phí, phải bán tháo!

Chia sẻ cùng bạn về chuyện đề xuất giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô: Ngoài mừng, trong lo

Hiện, các DN có ý định đầu tư vào sản xuất ô tô, tăng nội địa hóa chỉ muốn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xe trong nước sản xuất, không muốn giảm cho cả xe nguyên chiếc nhập khẩu, vì như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc nhập khẩu xe nguyên chiếc và gây khó khăn cho việc duy trì sự tồn tại của ngành công nghiệp ô tô đến năm 2018. "Cuối cùng, tất cả các nhà sản xuất trong nước có thể sẽ phải cân nhắc dừng sản xuất và chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc", các DN này cảnh báo.
Các DN sản xuất ô tô kiến nghị không giảm thuế tiêu thụ đặc biệt
Chuyện ngược đời?
So với năm 2012, thị trường ô tô hiện nay đã khá lên. Tuy nhiên, để tăng số lượng xe bán ra, các DN phải dùng nhiều biện pháp kích cầu như giảm giá, tăng dịch vụ sau bán hàng... Hiện tại, thị trường có vẻ ổn nhưng các nhà sản xuất ô tô đang chuẩn bị đối phó trước những áp lực mới, đặc biệt là khi Việt Nam tham gia cộng đồng kinh tế chung ASEAN.
> Dự thảo điều chỉnh thuế ô tô nhập khẩu
> Công nghiệp ô tô: “Ngộp thở” vì thuế!
> Sẽ giảm 50-70% thuế, phí cho ô tô?
> Bảo hiểm "ăn theo" ô tô
Để hỗ trợ các DN sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước cạnh tranh với xe nhập khẩu, xây dựng ngành công nghiệp ô tô ổn định, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ Dự thảo Quy hoạch phát triển công nghiệp ô tô đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Trong dự thảo này, ngoài những ưu đãi về vay vốn dài hạn lãi suất thấp, đầu tư hạ tầng, giảm thuế thu nhập DN..., Bộ cũng đề xuất giảm mạnh nhiều khoản thuế, trong đó "giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho các loại xe dưới 10 chỗ, có dung tích xy lanh đến 2.000cm3 để kích cầu tiêu dùng".
Tưởng với những đề xuất như vậy, các DN ngành ô tô sẽ phấn khởi, nhưng ngược lại, khi Dự thảo được trình lên thì 6 DN sản xuất ô tô có vốn đầu tư từ Nhật Bản (Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Suzuki Việt Nam, Hino Việt Nam, Ngôi Sao Việt Nam (Vinastar), Isuzu Việt Nam) và 2 DN trong nước là Công ty CP Ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki) và Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp (VEAM) đã gửi công văn lên Thủ tướng kiến nghị không giảm dòng thuế này.
Mới nghe qua có vẻ kiến nghị của những DN này thật ngược đời. Bởi, từ nhiều năm nay, giá xe của Việt Nam đắt đỏ nhất thế giới phần lớn do thuế tiêu thụ đặc biệt (từ 40-60% tùy theo dung tích xi-lanh). Giá xe cao trong khi kinh tế khó khăn, người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu nên sức mua năm 2012 giảm một nửa so với năm 2011. Năm nay, thị trường đã bắt đầu phục hồi nhưng nhiều DN vẫn kêu gọi giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để kích cầu tiêu dùng, nhưng đến nay vẫn chưa được các cơ quan chức năng đồng ý. Thế nhưng, khi được "bật đèn xanh" thì nhiều DN ô tô lại phản ứng. Vì sao có chuyện này?
Các DN cho rằng, quy hoạch phát triển ô tô được xây dựng là nhằm giữ chân và thu hút các DN đầu tư vào phát triển, sản xuất ô tô tại Việt Nam. 
Mặc dù đã có những ưu đãi nhất định nhưng các nhà sản xuất ô tô vẫn sẽ khó cạnh tranh lại xe nhập khẩu nếu như xe nhập khẩu cũng được giảm thuế tiêu thụ đặc biệt.
Theo lý lẽ của những DN đề nghị không giảm thuế tiêu thụ đặc biệt thì đề xuất "Giảm thuế tiêu thụ đặc biệt (có thời hạn và lộ trình) cho các loại xe dưới 10 chỗ, có dung tích xy lanh đến 2.000cm3 để kích cầu tiêu dùng" tại Điều 6.2.1 của Dự thảo rất chung chung, không rõ ràng và có thể hiểu là giảm cho cả xe nhập khẩu nguyên chiếc.
Theo lộ trình hội nhập AFTA, đến năm 2018, thuế suất nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các nước trong khu vực ASEAN sẽ giảm về mức 0% thì khi đó, giá xe nhập khẩu nguyên chiếc sẽ rẻ hơn xe sản xuất, lắp ráp trong nước.
Điều này là chắc chắn vì xe lắp ráp trong nước ngoài nhập linh kiện từ ASEAN có thuế suất 0% thì vẫn phải nhập không ít linh kiện từ khu vực ngoài ASEAN và phải chịu thuế suất 5%.Chỉ mới có thuế nhập khẩu giảm, giá xe nhập đã giảm như thế, nếu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt cũng áp dụng giống như các DN sản xuất trong nước thì chắc rằng, DN trong nước khó lòng mà cạnh tranh lại.
Không còn ngành công nghiệp ô tô?
Hiện, các DN có ý định đầu tư vào sản xuất ô tô, tăng nội địa hóa chỉ muốn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xe trong nước sản xuất, không muốn giảm cho cả xe nguyên chiếc nhập khẩu, vì như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc nhập khẩu xe nguyên chiếc và gây khó khăn cho việc duy trì sự tồn tại của ngành công nghiệp ô tô đến năm 2018. "Cuối cùng, tất cả các nhà sản xuất trong nước có thể sẽ phải cân nhắc dừng sản xuất và chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc", các DN này cảnh báo.
Các DN cho rằng, quy hoạch phát triển ô tô được xây dựng là nhằm giữ chân và thu hút các DN đầu tư vào phát triển, sản xuất ô tô tại Việt Nam. Mặc dù đã có những ưu đãi nhất định nhưng các nhà sản xuất ô tô vẫn sẽ khó cạnh tranh lại xe nhập khẩu nếu như xe nhập khẩu cũng được hưởng những chính sách trên.
Tính toán của các chuyên gia cho thấy, sau năm 2020 sẽ là giai đoạn bùng nổ ô tô với sản lượng năm 2020 sẽ đạt khoảng 400 ngàn chiếc/năm, tới 2030 khoảng 2 triệu xe/năm. Trong đó, ô tô con 9 chỗ trở xuống chiếm khoảng 70% tổng nhu cầu. Nếu sản xuất trong nước không đáp ứng được thì phải "nhường sân" cho xe nhập khẩu nguyên chiếc.
Sách Trắng 2014 do do Phòng Thương mại Châu Âu (EuroCham) thực hiện, cho thấy, ngành lắp ráp ô tô có khả năng chỉ đạt được mức tăng trưởng 3% mỗi năm. Việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào năm 2015 sẽ khiến các nhà lắp ráp xe trong nước nhập khẩu xe từ các quốc gia thành viên ASEAN cũng như của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để kinh doanh. Với những áp lực đó, cơ hội phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ không còn.

Puratos Grand-Place phá thế Cargill trong lĩnh vực ca cao Việt Nam

Song, nặng ký nhất vẫn là Puratos Grand-Place Việt Nam. Công ty này vừa khánh thành Nhà máy Lên men hạt ca cao (CCFP) với giá trị đầu tư giai đoạn 1 là 4,2 triệu USD, hoàn tất sẽ là 8 triệu USD và Trung tâm Phát triển ca cao (CDC) với sự hợp tác cùng Mars, tập đoàn chuyên sản xuất bánh kẹo, thức ăn cho thú nuôi và các mặt hàng thực phẩm liên quan đến sô cô la như: M&M, Skittles, Twix, Snickere, Extra... tại Khu công nghiệp Giao Long, tỉnh Bến Tre.
Cargill thêm đối thủ
Những tưởng Cargill sẽ thuận lợi hơn khi những cái tên như ED&F Man hay Mitsubishi Corporation rời bỏ thị trường Việt Nam. Thế nhưng, thực tế trái lại, nhiều tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông sản như Touton, Olam, Armajaro (đơn vị có thế mạnh trong việc tìm nguồn cung ứng và phân phối các mặt hàng nông sản như: ca cao, cà phê cho các nhà máy sản xuất sô cô la trên toàn cầu), Ecom (một trong 5 hãng thu mua lớn nhất thế giới về cà phê, bông, ca cao và chuyên cung cấp các nguyên liệu thô cho các nhà sản xuất lớn như Nestle, Hershey, Mars và Starbucks)... đua nhau mở rộng hoạt động tại thị trường Việt Nam.
Song, nặng ký nhất vẫn là Puratos Grand-Place Việt Nam. Công ty này vừa khánh thành Nhà máy Lên men hạt ca cao (CCFP) với giá trị đầu tư giai đoạn 1 là 4,2 triệu USD, hoàn tất sẽ là 8 triệu USD và Trung tâm Phát triển ca cao (CDC) với sự hợp tác cùng Mars, tập đoàn chuyên sản xuất bánh kẹo, thức ăn cho thú nuôi và các mặt hàng thực phẩm liên quan đến sô cô la như: M&M, Skittles, Twix, Snickere, Extra... tại Khu công nghiệp Giao Long, tỉnh Bến Tre.
Theo đó, Puratos Grand-Place Việt Nam đã trở thành đơn vị thứ hai sau Cargill hợp tác với Mars trong việc thu mua, kiểm soát chất lượng theo những tiêu chuẩn chất lượng "Cocotrace" và đào tạo những kỹ thuật trồng ca cao cho nông dân mà doanh nghiệp ấn định.
Về quy mô, CCFP được đánh giá là nhà máy lên men ca cao lớn nhất ở châu Á tính đến thời điểm hiện tại. Ông Gricha Safarian, Giám đốc Điều hành Puratos Grand-Place Việt Nam, cho biết, cùng với sự ra đời của CCFP, mô hình sản xuất từ hạt ca cao đến thanh sô cô la sẽ làm thay đổi cục diện của ngành ca cao Việt Nam.
Trong khi đó, đây vẫn còn là kế hoạch dang dở của Cargill. Bởi theo như chia sẻ của ông Harold Poelma, Giám đốc Điều hành lĩnh vực ca cao của Gargill thời điểm 2011, Cargill kỳ vọng sẽ có một nhà máy để chế biến rượu ca cao, bơ cao cao và bột ca cao tại Việt Nam để xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc và Ân Độ, thay vì phải vận chuyển toàn bộ lượng ca cao lên men sang nhà máy ở châu Âu để nghiền như hiện nay.
Những "chân rết" của Mars
Nhìn vào bảng xếp hạng Top 10 những quốc gia có thế mạnh sản xuất và chế biến ca cao trên toàn thế giới gồm: Hà Lan, Bờ Biển Ngà, Mỹ, Đức, Malaysia, Brazil, Ghana, Pháp, Indonesia, Tây Ban Nha thì cái tên Việt Nam hầu như không được nhắc đến.
Vậy tại sao Việt Nam vẫn thu hút các thương hiệu lớn trong ngành? Theo lý giải từ Cargill, mặc dù 70% nguồn ca cao thế giới xuất phát từ Tây Phi, đặc biệt là Bờ Biển Ngà, nhưng kể từ năm 1999, những biến cố về chính trị tại quốc gia này đã khiến các nhà lãnh đạo của Cargill lo ngại.
100.000ha
Đến năm 2020, Việt Nam mới chỉ có khoảng 100.000ha ca cao với tổng sản lượng khoảng 100.000 tấn hạt ca cao khô/năm
Từ đó, họ bắt đầu tìm kiếm những thị trường khác có thể phát triển ca cao nguyên liệu, trong đó có Việt Nam. Năm 2004, Cargill đã chính thức hợp tác cùng Mars.
Thời điểm này, Chính phủ Việt Nam cũng mở rộng đầu tư và phát triển cây ca cao với một số tổ chức quốc tế, nhằm xuất khẩu ca cao.
Do đó, đây được xem là cơ sở để những nhà thu mua ca cao như Cargill mạnh dạn phát triển cây ca cao tại Việt Nam.
Theo ông Lâm Đinh Hải, Giám đốc Chương trình Phát triển ca cao Việt Nam, Mars đang chiếm khoảng 20% sản lượng ca cao toàn cầu, ước đạt khoảng 680.000 tấn/năm, nên có nhiều nhà cung ứng muốn hợp tác và cung cấp nguyên liệu cho Mars.
Tuy nhiên, phía Mars chỉ chấp nhận những đơn hàng đạt chứng chỉ UTZ (do Cargill phối hợp cùng Tổ chức Phát triển Hà Lan Solidaridad và những đơn vị khác trong lĩnh vực ca cao phát triển và ứng dụng rộng rãi trên toàn cầu).
Theo đó, một khi Mars chấp thuận, chắc hẳn sẽ có nhiều "chân rết" tranh giành "miếng bánh thị trường ca cao" tại Việt Nam, dù sản lượng còn rất nhỏ, chưa đến 30 tấn/năm. "Hiện Ecom, Olam cũng đã đặt vấn đề, nếu Mars đồng ý, họ cũng sẽ tiến hành thu mua ca cao", ông Hải chia sẻ.
Tuy nhiên, chiến lược phát triển ca cao Việt Nam, đến năm 2020, Việt Nam mới chỉ có khoảng 100.000ha với sản lượng khoảng 100.000 tấn hạt khô/năm. Sản lượng này quá nhỏ so với tổng lượng ca cao trên thế giới, khoảng trên 3,4 triệu tấn/năm.
Thế nhưng, cùng với việc có mặt của nhiều nhà máy của các tập đoàn nước ngoài tại Việt Nam, kỳ vọng thị trường ca cao trong nước sẽ được nâng tầm cả về chất lượng lẫn số lượng.