Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Chia sẻ cùng bạn tin kiến nghị giảm thuế nhập khẩu gas

Và cũng như hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong các ngành hàng khác, đặc biệt là với các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, các đơn hàng đều đã được ký kết với khách hàng từ nhiều tháng trước, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng thực hiện đơn hàng đến tận quý II/2014 nên không thể điều chỉnh được hợp đồng.
Khi vừa được tin giá gas tăng mạnh, hầu hết các doanh nghiệp trong Hội Gốm sứ Bình Dương điêu đứng. Bởi vì, gas là nhiên liệu chính cho quá trình nung đốt, hoàn thiện sản phẩm của ngành sản xuất gốm sứ.
Trung bình một tháng các doanh nghiệp trong Hội tiêu thụ trên 1.000 tấn gas. Theo tính toán, giá gas chiếm đến 45% trong cơ cấu giá thành một sản phẩm gốm sứ. Như vậy, với mức giá tăng như thông báo, giá thành của một doanh nghiệp sản xuất gốm sứ cũng tăng tương ứng lên 10%.
Và cũng như hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong các ngành hàng khác, đặc biệt là với các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, các đơn hàng đều đã được ký kết với khách hàng từ nhiều tháng trước, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng thực hiện đơn hàng đến tận quý II/2014 nên không thể điều chỉnh được hợp đồng.
Điều mà người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp bức xúc khi giá gas tăng mạnh là lượng gas tự sản xuất trong nước hiện đã chiếm quá phân nửa so với lượng gas nhập khẩu, nhưng tại sao giá gas cứ liên tục tăng, nhất là tăng ngay trong thời điểm đã cận Tết.
Trước những bức xúc đó, ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) giải thích, nguyên nhân giá gas trong nước tăng chủ yếu áp lực từ thị trường thế giới.
Theo ước tính, giá gas trên thị trường thế giới tại thời điểm hiện nay đang chào bán ở mức trên 1.000 USD/tấn, tăng khoảng 274 USD/tấn so với hồi đầu tháng 11.
Với mức giá tăng mới này, giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng sẽ tăng lên 480.000 - 510.000 đồng/bình 12 kg (tùy từng thương hiệu gas), đây là mức giá cao nhất kể từ tháng 2/2012.
Trong khi đó, thị phần gas sản xuất trong nước đang chiếm khoảng 57,68%, còn lại là nhập khẩu, tính trung bình mỗi tháng Việt Nam nhập khẩu khoảng 52.160 tấn gas để bù vào nguồn cung thiếu hụt.
Ông Quyền cho hay, mặt hàng khí hóa lỏng (LPG) tùy thuộc danh mục bình ổn, có kê khai giá, đăng ký giá nhưng do thị trường quyết định. Do vậy, khi biến động các thông số đầu vào, doanh nghiệp đầu mối chỉ trình liên bộ Tài chính - Công Thương xem xét, nếu đảm bảo đúng quy định thì giá sẽ được điều chỉnh.
"Thuế nhập khẩu mặt hàng này đang ở mức 5%, nếu điều chỉnh giảm sẽ hỗ trợ giá tốt hơn cho người tiêu dùng trong thời điểm này," ông Quyền kiến nghị.
Cũng đồng tình với việc giá gas theo diễn biến thị trường, nhưng Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa có phân tích thấu đáo và đi thẳng vào vấn đề hơn, theo đó việc kiểm soát giá gas trong nước phải xuất phát từ chính khâu phân phối, chứ không thể chỉ quản lý với giá đầu vào.
Thứ trưởng cho rằng, hệ thống phân phối gas hiện qua rất nhiều khâu trung gian nên khi tới tay người tiêu dùng bị đội lên rất nhiều.Vì vậy, ngoài yếu tố bất khả kháng là đầu vào tăng, Thứ trưởng yêu cầu Vụ Thị trường trong nước làm việc với Bộ Tài chính và Cục Quản lý thị trường kiểm soát chặt giá phân phối đảm bảo mức giá hợp lý đến tay người tiêu dùng.
"Cần kiểm soát giá gas trong nước ngay từ khâu phân phối, giảm khâu trung gian, giảm đầu cơ, không để lũng đoạn thị trường gây ảnh hưởng cho người tiêu dùng", Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa nhấn mạnh.

Thực tế nhức nhối với thực phẩm chức năng: Muôn hình vạn trạng

Giải thích về mức giá quá đắt này, PGS - TS. Trần Đáng, Chủ tịch Hiệp hội TPCN, cho biết: "Nguyên nhân do công nghệ sản xuất với nhiều trang thiết bị hiện đại, thêm vào đó, việc phải chịu mức thuế cao từ 25 - 30% (chiếm tới 1/3 giá trị sản phẩm) và cũng do lợi nhuận của nhà bán hàng quá cao. Chẳng hạn, một loại TPCN bán tại Budapest (Hungary) có giá trị tương đương 300.000 đồng, song khi về Việt Nam, qua các khâu thuế và nhà phân phối đã đội giá lên 2 triệu đồng".
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó chủ tịch Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, năm 2012 Việt Nam chỉ có 30 loại sản phẩm TPCN nhập khẩu, thì đến nay đã tăng lên 10.000 sản phẩm, chiếm 40% thị phần. Việc phát triển quá nóng của ngành này đã dẫn đến tình trạng thị trường này bị loạn về giá cả và chất lượng.
Một số DN kinh doanh sản xuất những sản phẩm có chất lượng, song cũng có không ít sản phẩm đánh vào tâm lý người bệnh để quảng cáo không đúng thực tế, bán hàng với giá cao gây thiệt hại về kinh tế và sức khỏe người tiêu dùng.
Mới đây, cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 100 thùng TPCN nhãn ghi xuất xứ từ Mỹ nhưng lại sản xuất ở Hải Dương, hoặc trên 3.780 lọ TPCN dạng viên nang xuất xứ Trung Quốc nhưng khi nhập về Việt Nam lại dán nhãn sản xuất từ Mỹ.
Không chỉ được bán tự do tại nhà thuốc, thông qua các công ty bán hàng đa cấp, các sản phẩm TPCN còn được rao bán trên mạng. Ngay trong nước, các công ty dược, DN sản xuất cũng rất nhanh nhạy, chỉ cần một loại TPCN bán chạy là ngay sau đó, các DN đua nhau nhập khẩu, sản xuất để tung ra hàng loạt sản phẩm na ná nhau.
Sau thành công của Alipas, Angela, hàng loạt sản phẩm như Rocket 1h, Genshu, M-Phé, Thiên mã nhục thung dung, Khang Hy dược, sâm nhung bổ thận, Happy Women, Hoa Thiên đồng, Tố nữ Nhất nhất... cũng ào ào tung ra thị trường. Điều đáng nói là các quảng cáo TPCN đang gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, thậm chí quảng cáo như thần dược. Điều đáng nói là giá các TPCN hiện nay đang quá cao so với giá trị của sản phẩm.
Giải thích về mức giá quá đắt này, PGS - TS. Trần Đáng, Chủ tịch Hiệp hội TPCN, cho biết: "Nguyên nhân do công nghệ sản xuất với nhiều trang thiết bị hiện đại, thêm vào đó, việc phải chịu mức thuế cao từ 25 - 30% (chiếm tới 1/3 giá trị sản phẩm) và cũng do lợi nhuận của nhà bán hàng quá cao. Chẳng hạn, một loại TPCN bán tại Budapest (Hungary) có giá trị tương đương 300.000 đồng, song khi về Việt Nam, qua các khâu thuế và nhà phân phối đã đội giá lên 2 triệu đồng".
Theo Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, một trong những khó khăn trong việc quản lý là tình trạng quảng cáo TPCN đang bùng nổ, khó kiểm soát qua nhiều phương thức: trên mạng, website, tờ rơi, Facebook...
Bên cạnh đó, tình trạng quảng cáo thổi phồng tác dụng của TPCN, thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng trên các phương tiện truyền thông đại chúng gây hiểu lầm, nhầm lẫn cho người tiêu dùng còn phổ biến, trong khi đó, việc phối hợp giữa cơ quan quản lý và cơ quan đơn vị truyền thông chưa chặt chẽ, chưa có cơ quan thẩm quyền xét duyệt nội dung và cấp đăng ký quảng cáo.
Một khó khăn khác là không quản lý nổi các hoạt động quảng cáo thông qua hình thức hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn nội bộ, thông tin chia sẻ khách hàng...
Tại TP.HCM, trong 9 tháng đầu năm, các cơ quan chức năng đã kiểm tra 42/177 cơ sở sản xuất, kinh doanh TPCN, thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng trên địa bàn. Trong đó có 18 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền gần 140 triệu đồng, buộc đình chỉ 3 cơ sở và 3 cơ sở bị đình chỉ lưu thông sản phẩm.
PGS - TS. Lê Văn Truyền, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết: "Hiện, Việt Nam đang cấm bác sĩ kê đơn TPCN cho bệnh nhân. Vì vậy, TPCN lâu nay được sử dụng hầu hết qua kênh truyền miệng, quảng cáo, thậm chí cả kênh tư vấn của những người không có chuyên môn trong y tế.
Vậy, để bảo vệ người tiêu dùng có nên cho phép bác sĩ kê đơn TPCN không?". Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, trước mắt, Bộ sẽ ban hành Thông tư về TPCN, nêu rõ quy định có nên kê TPCN trong đơn thuốc hay không; quảng cáo như thế nào; quy trình hướng dẫn sử dụng TPCN...
Bộ cũng sẽ có quy định cởi mở hơn về việc bác sỹ được hướng dẫn sử dụng TPCN. Về lâu dài, Bộ sẽ ban hành quy định về thực phẩm chức năng dựa trên Nghị định của ASEAN trong vấn đề này.

Tin tức nổi bật: Saigon Co.op: Sức ép của người dẫn đầu

Do đó, để có thể có lãi, các nhà bán lẻ nội địa lẫn quốc tế phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản trị, đặc biệt là quản trị chuỗi cung ứng. Wal-Mart là một ví dụ điển hình. Nhà bán lẻ này đã xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung ứng, xem họ như một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu bằng cách tận dụng lợi thế mua số lượng rất lớn hàng hóa từ các nhà cung ứng với mức giá tốt nhất.
Thống trị thị trường bán lẻ với hơn 50% thị phần, Saigon Co.op đang hăm hở tiến đến cột mốc 1 tỉ USD doanh thu. Tuy nhiên, chặng đường sắp tới của nhà bán lẻ số 1 thị trường này có vẻ sẽ khó khăn hơn bởi sự “quấy rầy” của các đối thủ nước ngoài.
Doanh thu của Saigon Co.op đã tăng xấp xỉ 380 lần so với ngày đầu thành lập
Từ trên chòi quan sát tại Tổng hành dinh của Nhà bán lẻ Wal-Mart ở bang Arkansas, nhà báo Mỹ Thomas L. FriedMain, tác giá cuốn sách nổi tiếngThế Giới Phẳng, đã được mục sở thị trung tâm phân phối rộng hơn 111.000 mcủa tập đoàn này.
Tại đây, hàng hóa của hàng ngàn nhà cung ứng được tải vào một băng chuyền khổng lồ ví như một dòng sông suốt 24/7. Khi “dòng sông” chuyển động, các con mắt điện tử lần lượt đọc mã vạch trên mỗi thùng hàng trước khi chúng được chuyển tới khu vực phân loại theo đúng yêu cầu đặt hàng của từng siêu thị Wal-Mart.
Vào mọi thời điểm tại bất kỳ siêu thị Wal-Mart nào trên thế giới, khi nhân viên thu tiền dùng máy đọc quét qua bất kỳ món hàng nào, một tín hiệu sẽ được phát đi và truyền qua mạng lưới chuỗi cung ứng đến tận nhà cung cấp sản phẩm đó. Hệ thống quản lý của nhà cung cấp sẽ tự động phát ra tín hiệu nhắc nhở sản xuất ra một món hàng khác để chuyển qua chuỗi cung ứng toàn cầu.
Toàn bộ quy trình cứ thế mà lặp đi lặp lại. Sách Thế Giới Phẳng có hẳn một chương mô tả chuỗi cung ứng của Wal-Mart và ông Friedman gọi đó là “Bản giao hưởng không có hồi kết”. Và bản giao hưởng này đã góp phần giúp Wal-Mart trở thành chuỗi bán lẻ siêu thị lớn nhất thế giới hiện nay.
Không hoành tráng như Wal-Mart, nhưng tại Việt Nam, thương hiệu Co.opmart thuộc Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) đã trở thành cái tên cửa miệng của nhiều gia đình. Sau 17 năm phát triển, chuỗi bán lẻ nội địa này đang tiến tới đích doanh thu 1 tỉ USD lần đầu tiên trong năm nay.
Mục tiêu này có vẻ như sắp thành hiện thực (doanh thu toàn hệ thống trong năm qua đã vượt 19.300 tỉ đồng), nhưng trong bối cảnh cuộc chiến bán lẻ trong nước đang ngày càng khốc liệt với sự xuất hiện của các tay chơi mới từ nước ngoài, Saigon Co.op sẽ làm gì để duy trì vị trí số 1 trên thị trường bán lẻ?
Bài toán vốn
Nếu làm một phép tính nhanh sẽ có kết quả sơ bộ về mức tăng trưởng doanh thu của Saigon Co.op từ ngày thành lập đến nay là xấp xỉ 380 lần. Mức độ này thể hiện quá trình lột xác của Saigon Co.op với thương hiệu cốt lõi Co.opmart.
Từ siêu thị đầu tiên là Co.opmart Cống Quỳnh ra mắt năm 1996 với doanh thu khoảng 55 tỉ đồng/năm, Saigon Co.op đã có gần 130 siêu thị Co.opmart và cửa hàng tiện lợi Co.op Food trong cả nước với tổng doanh thu hơn 19.300 tỉ đồng (năm 2012).
Gần đây, Saigon Co.op đã khai trương đại siêu thị đầu tiên mang tên Co.opXtra, liên doanh với NTUC FairPrice (Singapore). Trong đó, Saigon Co.op góp 64% vốn. Điểm khác biệt của Co.opXtra với chuỗi Co.opmart là quy mô gấp 4-5 lần, lượng hàng hóa gấp 2-3 lần. Vốn đầu tư cho mỗi đại siêu thị Co.opXtra là khoảng 6-9 triệu USD. Theo dự kiến, liên doanh này sẽ phát triển khoảng 2-3 đại siêu thị mỗi năm để đạt được 20 đại siêu thị vào năm 2020.
Để có thể phát triển cùng lúc 3 chuỗi bán lẻ Co.opmart, Co.op Food và Co.opXtra cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, Saigon Co.op, do Nhà nước nắm giữ gần 85% vốn, phải chủ động được nguồn vốn đầu tư. Trong năm nay, Saigon Co.op đã và đang triển khai 4 giải pháp huy động vốn gồm chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần, liên doanh, gọi vốn đầu tư nước ngoài và vay vốn ngân hàng. Trong đó, hai giải pháp đầu được ưu tiên hơn cả.
Mô hình công ty cổ phần có thể giúp Saigon Co.op huy động vốn nhanh qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Năm qua, Saigon Co.op đã thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Sài Gòn Co.op (SCID) với vốn đăng ký 500 tỉ đồng (60% vốn của Saigon Co.op, phần còn lại thuộc về các cổ đông tổ chức và cá nhân).
SCID hiện là cánh tay nối dài của Saigon Co.op trong việc săn lùng các mặt bằng đẹp, phục vụ việc phát triển các chuỗi bán lẻ. Báo cáo tài chính quý III năm nay của SCID ghi nhận mức lãi sau thuế 34,7 tỉ đồng, gấp 19,3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Tại Đại hội cổ đông năm 2012 và 2013, trước chất vấn của cổ đông về thời điểm niêm yết cổ phiếu SCID trên sàn chứng khoán, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Co.op, cho biết, nếu đưa cổ phiếu lên sàn thì cần phải tìm được đối tác chiến lược lớn, tạo ra giá trị gia tăng cho công ty, cụ thể là giá trị cổ phiếu.
“Nhưng thị trường chứng khoán vẫn chưa ổn định với hiện tượng tăng ảo hơi nhiều và nhảy múa liên tục, chưa kể đến việc thôn tính lẫn nhau giữa các công ty”, ông nói. Vì vậy, việc niêm yết cổ phiếu tiếp tục được dời sang một thời điểm thích hợp hơn.
Mặc dù kế hoạch niêm yết cổ phiếu vẫn ở thì tương lai, nhưng gần đây, theo một nguồn tin không chính thức, SCID dự kiến sẽ phát hành hơn 25 triệu cổ phiếu ra công chúng với mức giá 10.000 đồng/cổ phiếu.
1 đấu 4
Viêt Nam vừa chạm ngưỡng dân số 90 triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới. Với quy mô thị trường tiêu dùng như vậy, bất kể việc Việt Nam không có tên trong bảng xếp hạng top 30 quốc gia có mức tăng trưởng ngành bán lẻ cao nhất năm qua của A.T Kearney (Mỹ), các chuỗi bán lẻ vẫn liên tục bành trướng về quy mô.
Với thị phần bán lẻ siêu thị hiện chiếm hơn 50% trên cả nước (thống kê của Bộ Công Thương), Saigon Co.op vẫn đang ở thế thượng phong so với các chuỗi bán lẻ nội địa như Maximark, Citimart, Satramart (có quy mô chưa tới 10 cửa hàng/chuỗi).
Đáng chú ý là Vinatexmart đang triển khai kế hoạch mở thêm 20 siêu thị trong năm nay cùng tham vọng hướng tới đích 200 siêu thị, điểm bán lẻ vào cuối năm 2015. Và Vinatexmart sẽ bắt tay với Tập đoàn Aeon của Nhật để thực hiện kế hoạch này.
Như vậy, cuộc chiến bán lẻ trong nước hiện chỉ thực sự diễn ra giữa Saigon Co.op với các thương hiệu nước ngoài là Metro, Big C, Lotte và sắp tới là Aeon Mall, dự kiến sẽ khai trương đại siêu thị đầu tiên tại Celadon City, quận Tân Phú, TP.HCM vào tháng 1.2014. Chuỗi Big C hiện đã có 24 siêu thị trên toàn quốc, còn Metro theo sát với 20 siêu thị. Tập đoàn Lotte sở hữu 3 siêu thị và đang tăng tốc đầu tư hướng tới mục tiêu 60 trung tâm thương mại vào năm 2020. Đây cũng là thời điểm Aeon dự kiến sẽ đạt 20 đại siêu thị.
Rõ ràng, cuộc chiến giữa 4 nhà bán lẻ này chủ yếu diễn ra trên chiến tuyến mặt bằng. Nếu Saigon Co.op đã có “cây gậy chống lưng” là SCID chuyên săn lùng các mặt bằng đẹp trong cả nước thì 4 chuỗi bán lẻ nước ngoài cũng có chiêu riêng của mình.
Để đạt tới quy mô như hiện nay, Big C đã xoay sở khá tốt bằng nhiều cách như lập liên doanh với đối tác địa phương, mở doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hay 100% trong nước để cùng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền hay chuyển giao công nghệ. Còn Metro thì theo đuổi chiến lược thuê dài hạn và dần tiến tới sở hữu bất động sản tương tự như cách Wal-Mart đã làm.
Lotte thì khá kín tiếng trong chiến lược mặt bằng, nhưng cả 3 siêu thị mà họ đang vận hành đều theo mô hình trung tâm mua sắm có diện tích lớn (trên 10.000 m2) và thuộc các dự án khu đô thị mới. Đây cũng là cách mà Aeon đang áp dụng.
“Chúng tôi tập trung vào khu vực ngoại thành, ưu tiên các khu đô thị mới như Celadon với diện tích khá lớn và thương lượng trực tiếp với Ủy ban Nhân dân TP.HCM về thời gian thuê đất - 50 năm”, ông Nishitohge Yasuo, Tổng Giám đốc Aeon Việt Nam, cho biết. Chiến lược này cũng sẽ được áp dụng cho Aeon Mall thứ hai ở Khu Đô thị Canary, Bình Dương (dự kiến khai trương vào tháng 11/2014) và thứ ba ở Khu Đô thị Long Biên, Hà Nội (7/2015).
Quản tri chuỗi: Mục tiêu cốt lõi
Kế hoạch phát triển hệ thống bán lẻ của Saigon Co.op từ năm 2013-2020
2013: Phát triển hệ thống Co.opmart có mặt trên 36 tỉnh thành, khai trương Co.opXtra Thủ Đức, nâng tổng số siêu thị Co.opmart lên 70 và cửa hàng Co.op Food lên 75.
2015: Đạt mốc 100 siêu thị Co.opmart trên toàn quốc.
2020: Đạt mốc 20 đại siêu thị Co.opXtra trên toàn quốc.
Nguồn: Saigon Co.op
Những năm qua, thị trường bán lẻ Việt Nam đã gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế. Kinh tế đi xuống, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu hơn, từ đó làm gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các chuỗi bán lẻ. Một lý do khác, theo nhận xét của ông Hòa, Saigon Co.op, là “chiếc bánh vẫn vậy, nhưng ngày càng có nhiều người tham gia chia phần nên cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt”.
Tuy vẫn trung thành với kế hoạch mở trung bình 10 siêu thị Co.opmart, 10 cửa hàng Co.op Food và 2 đại siêu thị Co.opXtra mỗi năm, nhưng ông Hòa cho rằng mở rộng chuỗi là bài toán mà các doanh nghiệp bán lẻ cần phải cân nhắc. “Saigon Co.op thường phải cộng thêm 2 năm chịu lỗ (ngoài thời gian lỗ theo lộ trình cho phép) đối với những dự án mới”, ông nói.
Giám đốc đối ngoại một hệ thống siêu thị nước ngoài (không muốn nêu tên) cũng thừa nhận doanh thu chỉ thực sự tốt ở những siêu thị tại các thành phố lớn. “Thường độ lớn của chuỗi phải từ 10 siêu thị trở lên sau ít nhất 5-7 năm hoạt động thì mới có thể nói tới chuyện hòa vốn và bắt đầu có lãi”, vị này nói.
Đồng quan điểm, ông Yasuo, Aeon Việt Nam, ước tính Aeon Mall đầu tiên tại Việt Nam chỉ có thể thu hồi số vốn đầu tư 100 triệu USD sau 10 năm nữa. Các lý do được ông đưa ra gồm chi phí đầu tư chuỗi bán lẻ trong nước khá cao (phí thuê mặt bằng thường chiếm khoảng 60%), người tiêu dùng Việt Nam chưa biết nhiều tới thương hiệu Aeon, mức thuế nhập khẩu hàng hóa từ Nhật dao động từ 10-40%, thủ tục hải quan khá phức tạp, rườm rà…
Do đó, để có thể có lãi, các nhà bán lẻ nội địa lẫn quốc tế phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản trị, đặc biệt là quản trị chuỗi cung ứng. Wal-Mart là một ví dụ điển hình. Nhà bán lẻ này đã xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung ứng, xem họ như một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu bằng cách tận dụng lợi thế mua số lượng rất lớn hàng hóa từ các nhà cung ứng với mức giá tốt nhất.
Wal-Mart còn sở hữu hệ thống trung tâm phân phối đáp ứng được hơn 90% nhu cầu hàng hóa với gần 4.000 xe tải. Không chỉ mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, vận chuyển hàng từ cửa nhà máy, nhà bán lẻ này còn dành nhiều thời gian làm việc cùng nhà cung ứng để biết rõ cấu trúc chi phí của họ.
Sau những cuộc sàng lọc gắt gao nhằm thể hiện quyền lực của mình, Wal-Mart mới cho phép “khách vào nhà”. Với cách chọn lọc như vậy, chi phí bán hàng tại từng siêu thị Wal-Mart được tối ưu hóa nhằm mục tiêu tăng doanh thu ở mức cao nhất.
Tại Việt Nam, Big C từng gặp phải rủi ro khi áp dụng mô hình bán lẻ với mục tiêu cung cấp các sản phẩm chất lượng và giá cao hoặc ngang bằng Co.opmart. Và họ đã không thể tối ưu hóa được chi phí và lợi nhuận dù đã thành công với mô hình này ở nhiều nước.
Sau đó, Big C đã chuyển hướng trở thành chuỗi siêu thị giá rẻ với nhiều đợt khuyến mãi nhằm gia tăng cạnh tranh với Co.opmart và Metro. Với thay đổi này, Big C đã phải mặc cả với nhà cung ứng để có được giá tốt nhất. Và họ đã từ chối nhiều nhà cung ứng trong thời gian dài nếu không chấp nhận các điều khoản của họ.
Về Co.opXtra thì hãy còn quá mới để có thể bàn đến hiệu quả kinh doanh của thương hiệu này. Còn đối với chuỗi 64 siêu thị Co.opmart, mối quan hệ hợp tác giữa đơn vị này với hàng ngàn nhà cung ứng được đánh giá là khá tốt. Tuy nhiên, năm qua cũng đã có tới 3 siêu thị Co.opmart bị đóng cửa với nhiều khả năng do kinh doanh kém hiệu quả.
Biểu đồ mô tả các giai đoạn phát triển của thị trường bán lẻ tại một quốc gia của A.T Kearney trong năm qua cho thấy, ngành bán lẻ Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển thịnh vượng. Sự kiện ra mắt đại siêu thị Aeon Mall Celadon Tân Phú sắp tới là một minh chứng. Việc gia nhập thị trường bán lẻ Việt Nam của đối thủ Nhật này càng làm tăng áp lực lên các công ty trong nước mà đại diện là Saigon Co.op.
Với tiềm năng của thị trường tiêu dùng Việt Nam, không loại trừ khả năng các tập đoàn như Wal-Mart và Tesco cũng sẽ nhảy vào (trên thực tế, hai nhà bán lẻ này đã từng tìm hiểu thị trường Việt Nam). Nếu các nhà bán lẻ chuyên nghiệp này nhảy vào, sức ép duy trì vị thế người dẫn đầu của Saigon Co.op sẽ càng thêm lớn.

Cùng tham khảo sự việc khi nhãn hàng lớn bắt tay siêu thị

Thế nhưng, hiện nay, HNR đã đến được với khoảng 40% hộ gia đình thành thị ở Việt Nam, chiếm khoảng 3% lượng hàng tiêu dùng bán ra tại kênh này. Chính sự thay đổi trong xu hướng của người tiêu dùng đã buộc các DN đẩy mạnh sản xuất HNR mặc dù biết rằng về lâu dài điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến nhãn hàng của mình.
Vinamit vào cuộc
Bắt đầu từ đầu năm 2012, Vinamit quyết định đẩy mạnh hơn nữa lượng hàng tiêu thụ nội địa bằng liên kết với hệ thống Big C và Co.opmart làm HNR.
Với 3 nhà máy, công suất mỗi nhà máy 15 - 20 tấn/ngày, Vinamit cung cấp ra thị trường khoảng hơn một chục loại sản phẩm trái cây sấy khô như mít, chuối, khoai lang, khoai môn, xoài, đu đủ... với doanh thu hơn 350 tỷ đồng/năm.
Hiện tỷ lệ nội địa và xuất khẩu là 50/50. Tại thị trường nội địa, riêng với mít sấy khô, sản phẩm của Vinamit chiếm đến 90% thị phần. Với năng lực sản xuất và kinh doanh như thế, việc Vinamit làm HNR cho các siêu thị khiến nhiều người bất ngờ.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit, có lý khi tham gia phân khúc này. Đó là ông muốn "khóa thị trường" bằng các dòng hàng của Vinamit.
Trong khi hàng thương hiệu Vinamit là "hàng loại 1" thì khi liên kết với các siêu thị, Vinamit đã giải quyết được bài toán "hàng loại 2" mà trước đây, Vinamit phải sản xuất bằng một thương hiệu khác để cạnh tranh với sản phẩm chất hượng thấp trên thị trường.
Trong khi "hàng thương hiệu khác" của Vinamit có chất lượng cao hơn nhưng vẫn phải bán bằng giá đối thủ nên... nhóm hàng này lỗ triền miên. Với việc cung cấp HNR cho Co.opmart và Big C, Vinamit không những cắt được khoản lỗ này mà còn mang lại cho người tiêu dùng sản phẩm chất lượng cao hơn các DN khác nhưng giá rẻ hơn.
Không những thế, việc hợp tác này đã giúp Công ty khai thác tối đa công suất sản xuất để hạ giá thành sản phẩm đồng thời với việc tăng doanh thu. Từ đầu năm đến nay, dù thị trường khó khăn nhưng nhờ HNR, doanh thu của Công ty tăng 15 - 20% so với năm 2012. Với thực tế tăng trưởng đó, việc đạt 400 tỷ đồng doanh số vào cuối năm là hoàn toàn có khả năng.
Ông Viên cho biết, Vinamit hiện cung cấp 7 sản phẩm HNR cho hai hệ thống siêu thị trên với mức tăng trưởng 25 - 40%. Trong đó, HNR làm với Co.opmart tăng nhanh "một cách khủng khiếp", tháng sau tăng gần gấp đôi so với tháng trước.
Và hiện tại, với nhiều sản phẩm, nhiều bao bì, kích cỡ khác nhau, mặc dù chưa đầy năm nhưng doanh số HNR do Vinamit tại Co.opmart đã tăng 40% so với trước đây và hiện đang tiếp tục tăng. Dù HNR tăng nhưng doanh số thương hiệu Vinamit bán tại hai hệ thống siêu thị này vẫn không bị ảnh hưởng.
Tại hệ thống siêu thị Co.opmart, HNR do Vinamit sản xuất còn có logo của Công ty - điều chưa có tiền lệ trong liên kết sản xuất HNR. Thường thì tên nhà sản xuất chỉ được ghi bằng dòng chữ: "Sản phẩm được sản xuất tại nhà máy của Công ty...".
Đã vậy, HNR của siêu thị có thể bị lỗ so với bán sản phẩm thương hiệu Vinamit. "Đó là cả một quá trình dài, qua nhiều vòng đàm phán từ cấp nhãn hàng, cho đến phó tổng phụ trách kinh doanh rồi đến người quyết định cao nhất", ông Viên tiết lộ.
Nhãn lớn làm hàng nhỏ
Lâu nay, mọi người thường cho rằng, chỉ những DN nhỏ mới hợp tác với các siêu thị để làm HNR vì có thể tận dụng được kênh bán hàng này để tăng doanh số. Từ việc làm HNR, DN giải quyết được đầu ra, duy trì sản xuất trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Thế nhưng hiện nay, không chỉ DN nhỏ mà các nhà sản xuất lớn cũng không bỏ ngoài cuộc khai thác kênh này. Trước Vinamit, các công ty lớn như Giấy Sài Gòn, Kinh Đô, Sài Gòn Food, bột giặt Lix... cũng đã làm HNR cho hệ thống các siêu thị.
Trong đó, bánh Lucky của Co.opmart bán từ năm 2007 do Kinh Đô gia công. Giấy Sài Gòn làm HNR cho nhiều siêu thị và chỉ riêng tại hệ thống Co.opmart đã mang đến cho Công ty khoảng 30 tỷ đồng doanh thu mỗi năm.
Còn Lix có doanh thu năm 2012 đạt hơn 1.000 tỷ đồng, 18% trong số đó được đóng góp từ việc gia công HNR cho các siêu thị. Hiện nay, hầu hết các loại bột giặt và chất tẩy rửa lỏng được bán tại các hệ thống siêu thị Co.opmart, Big C, Metro đều do Lix cung cấp.
Ước tính, có đến 30 - 40 loại sản phẩm HNR được Lix sản xuất cho những siêu thị này. Cũng là một DN tham gia khá mạnh ở kênh HNR, tại Sài Gòn Food, tốc độ tăng trưởng bình quân của hoạt động gia công HNR cho nhà bán lẻ là 20%, chiếm 30% tổng doanh thu thị trường nội địa.
Theo Công ty Nghiên cứu Thị trường Kantar Worldpanel, người tiêu dùng đang dần chuyển sang mua các sản phẩm HNR của siêu thị vì giá thấp hơn hàng cùng loại của nhà sản xuất. Năm 2008, HNR chiếm chưa tới 1% tổng lượng hàng tiêu dùng nhanh ở các kênh mua sắm hiện đại.
Thế nhưng, hiện nay, HNR đã đến được với khoảng 40% hộ gia đình thành thị ở Việt Nam, chiếm khoảng 3% lượng hàng tiêu dùng bán ra tại kênh này. Chính sự thay đổi trong xu hướng của người tiêu dùng đã buộc các DN đẩy mạnh sản xuất HNR mặc dù biết rằng về lâu dài điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến nhãn hàng của mình.
"Với tình hình hiện nay, nếu mình không nhận làm HNR cho siêu thị thì chắc chắn sẽ có các DN nhỏ hơn làm điều này. Như vậy, doanh số sẽ ảnh hưởng mà người tiêu dùng cũng sẽ không có được hàng chất lượng tốt hơn", tổng giám đốc của một thương hiệu ngành hóa phẩm lý giải việc gia tăng làm HNR.
Không chỉ làm HNR cho Co.opmart và Big C, Vinamit đã gia công cho Walmart tại Trung Quốc. Đều đặn mỗi tháng Công ty cung ứng cho đơn vị này 2 container hàng (mỗi container 3 tấn) với đủ loại sản phẩm sấy khô. Cũng với cách thức này, hàng của Vinamit đã đưa vào hệ thống các siêu thị Tesco Lotus, Carrefour... tại Trung Quốc.
Ông Nguyễn Lâm Viên cho biết, sẽ sẵn sàng hợp tác với các siêu thị khác nếu có nhu cầu làm HNR. Sở dĩ ông Viên mạnh dạn làm HNR vì "mình vẫn giữ được lợi thế về uy tín thương hiệu. Phải sòng phẳng trong thương lượng để không bị ép giá quá mức đến đoạn phải sản xuất hàng kém chất lượng".
Theo ông Viên, thông thường, một sản phẩm marketing tốt phải cung cấp cho người tiêu dùng hai giá trị: giá trị vật chất và giá trị khác biệt - cảm xúc. HNR cắt bỏ phần khác biệt, các yếu tố cảm xúc, tiết kiệm chi phí quảng bá, chăm sóc khách hàng, trưng bày... (do siêu thị trực tiếp làm) nên giá sẽ rẻ hơn.
Tuy nhiên, vẫn có một lượng lớn khách hàng muốn sử dụng sản phẩm có thương hiệu của DN, giàu cảm xúc hơn trong món hàng và khác biệt với sản phẩm giả rẻ. Vì thế, DN cũng không nên lo ngại chuyện "mình cắn đuôi mình".

Chia sẻ tin vui thị trường xe cũ: Sống tốt!

Theo giới kinh doanh ô tô, khi nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục thì nhu cầu sử dụng xe ô tô thay thế phương tiện 2 bánh của người dân và doanh nghiệp tăng rõ rệt. Trong khi giá xe mới vẫn còn quá cao so với nhiều nước trên thế giới thì việc sở hữu những dòng xe ưa thích đã qua sử dụng cũng thỏa mãn phần nào những người mê phương tiện 4 bánh. Không những thế, người mua xe cũ không chịu khoản phí trước bạ và phí cấp biển cao, lại phù hợp với túi tiền. Đó là những lý do khiến xe cũ luôn đắt hàng.
Tăng theo thị trường
Khi thị trường ấm dần lên thì phân khúc ô tô đã qua sử dụng cũng theo đó mà tăng nhanh, và khi nhu cầu sở hữu xe mới tăng thì việc bán lại xe cũ là chắc chắn. Thông tin từ các showroom ô tô đã qua sử dụng cho thấy, doanh số bán hàng hiện đã tăng 20%-30% so với đầu năm.
Đại diện AnyCar Việt Nam, cho biết, hai tháng trở lại đây, việc kinh doanh rất tiến triển. Bình quân mỗi tháng, doanh nghệp này bán được khoảng 120 xe với giá bình quân 550 triệu đồng/chiếc. Và theo dự kiến, số xe bán ra của AnyCar Việt Việt sẽ tăng lên 150 xe/tháng vào thời điểm cận Tết.
> Có thể tăng thuế nhập khẩu xe cũ
> Thuế nhập khẩu xe cũ bất ngờ tăng mạnh
> Lưu ý khi mua xe cũ
> Thị trường ô tô tăng trưởng mạnh vào cuối năm
> Thị trường ô tô Việt Nam: Hai xu thế phát triển?
> "Nóng máy" thị trường ô tô
Theo giới kinh doanh ô tô, khi nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục thì nhu cầu sử dụng xe ô tô thay thế phương tiện 2 bánh của người dân và doanh nghiệp tăng rõ rệt. Trong khi giá xe mới vẫn còn quá cao so với nhiều nước trên thế giới thì việc sở hữu những dòng xe ưa thích đã qua sử dụng cũng thỏa mãn phần nào những người mê phương tiện 4 bánh. Không những thế, người mua xe cũ không chịu khoản phí trước bạ và phí cấp biển cao, lại phù hợp với túi tiền. Đó là những lý do khiến xe cũ luôn đắt hàng.
Nhưng không phải đến thời điểm thị trường ô tô "nóng lên" thì phân khúc xe cũ mới sôi động. Các thống kê cho thấy, nhu cầu sử dụng xe cũ tăng mạnh trong thời gian qua, đặc biệt là sau thời điểm bùng nổ của thị trường ô tô vào năm 2007.
Hiện, mỗi năm, cả nước có khoảng 100.000 - 120.000 xe đã sử dụng từ 4 năm trở lên. Số liệu nghiên cứu của Công ty Liberty Việt Nam, cho thấy, trong số xe đang lưu hành (800.000 xe trong cả nước) thì có đến 1/3 là xe đã qua hai đời chủ.
Ông Đỗ Quang Thuận, Tổng giám đốc Công ty Liberty Việt Nam, cho rằng, hiện nay, số lượng người lần đầu sở hữu xe bằng việc mua lại xe đã sử dụng là không nhỏ. Dự báo, đến năm 2015 - 2016, số xe đã qua sử dụng trên ba năm sẽ chiếm một nửa số lượng xe lưu hành trong cả nước.
Không bỏ lỡ cơ hội
Các hãng ô tô không bỏ lỡ thị trường xe đã qua sử dụng
Trước đây, kinh doanh xe cũ chỉ có các doanh nghiệp tư nhân và những nhà nhập khẩu tự do, nhưng nay, trước tiềm năng thị trường đang rộng mở, các hãng ô tô đã không đứng ngoài cuộc.
Năm 2011, Toyota quyết định khai thác phân khúc xe đã qua sử dụng bằng việc mở trung tâm kinh doanh xe đã qua sử dụng tại TP.HCM. Với vốn đầu tư ban đầu 16 tỷ đồng, trung tâm được xây dựng với đầy đủ các khu vực chức năng như khu trưng bày bên trong và bên ngoài, khu chờ cho khách hàng, các khoang dịch vụ chức năng... Hoạt động chính của trung tâm này là định giá xe, nhập khẩu, mua và bán các loại xe đã qua sử dụng, chăm sóc và làm đẹp xe...
Đại diện Toyota Việt Nam, cho rằng, lĩnh vực kinh doanh xe đã qua sử dụng rất tiềm năng nên đã lên kế hoạch mở rộng dịch vụ này. Cùng với trung tâm tại TP.HCM, Toyota Việt Nam đã mở trung tâm chuyên doanh xe cũ tại Hà Nội. Chưa dừng lại ở đó, hãng ô tô có thị phần lớn nhất Việt Nam này vẫn nuôi tham vọng sẽ chiếm luôn ngôi đầu bảng xe cũ khi lên kế hoạch mở chuỗi trung tâm kinh doanh xe đã qua sử dụng tại các đại lý Toyota.
Cũng như Toyota, hãng xe sang đến từ Đức cũng đẩy mạnh khai thác thị trường này bằng sự ra mắt của Trung tâm Thương mại dịch vụ ô tô Mercedes-Benz tại quận Bình Tân, TP.HCM. Với sự hợp tác của nhà phân phối ủy quyền là Công ty CP Dịch vụ ô tô Hàng Xanh (Haxaco), Trung tâm Thương mại dịch vụ ô tô Mercedes-Benz thực hiên dịch vụ mua bán, trao đổi xe Mercedes-Benz đã qua sử dụng, thực hiện dịch vụ đồng sơn và làm đẹp cho xe Mercedes-Benz. Đây là trung tâm duy nhất tại Việt Nam kinh doanh xe Mercedes-Benz chính hãng đã qua sử dụng.
Trước Toyota và Mercdes-Benz, hãng ô tô đến từ Mỹ Ford cũng đã đầu tư cho mãng kinh doanh này. Việc đầu tư vào phân khúc xe cũ không những giúp Hãng tăng doanh số mà còn củng cố lòng tin đối với khách hàng về thương hiệu.
Trong khi giá xe mới vẫn còn quá cao so với nhiều nước trên thế giới thì việc sở hữu những dòng xe ưa thích đã qua sử dụng cũng thỏa mãn phần nào những người mê phương tiện 4 bánh.

Không những thế, người mua xe cũ không chịu khoản phí trước bạ và phí cấp biển cao, lại phù hợp với túi tiền. Đó là những lý do khiến xe cũ luôn đắt hàng

Chia sẻ cùng bạn vấn đề bớt thủ tục hải quan, giá ô tô mới giảm

Theo quy định hiện nay, mỗi chiếc xe nhập khẩu phải có một bản hợp đồng với độ dài trung bình 80 trang giấy. Nếu thu nhỏ hết mức và in 2 mặt thì còn 20 tờ, khi sao chép thành 3 bản hoàn chỉnh (1 bản cho nhà nhập khẩu, 1 cho cơ quan hải quan và 1 cho đơn vị thông quan), mỗi chiếc ô tô nhập về Việt Nam phải tốn đến 60 tờ giấy.
Trong Sách Trắng 2014 do Phòng thương mại châu Âu (EuroCham) phát hành vào tháng 11, các DN ô tô từ khu vực châu Âu cho rằng, muốn thúc đẩy ngành ô tô Việt Nam phát triển, trước tiên phải cải cách thủ tục hải quan. Hiện nay, các giấy tờ cho thủ tục hải quan quá nhiều, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của DN ngành ô tô.
Năm 2011, EuroCham đã đưa ra 7 kiến nghị về thông quan, gồm: cho phép thông quan trước khi hàng đến, hoàn thiện hải quan điện tử, xây dựng hồ sơ cấp phép - đăng ký cho đại lý hải quan, thủ tục thanh toán, chuẩn hóa quy trình, loại bỏ gánh nặng hành chính, nhất quán trong phân loại.
Năm 2012, EuroCham tiếp tục kiến nghị hải quan giảm bớt các giấy tờ thủ tục. Thế nhưng, những thủ tục giấy tờ này không hề giảm mà còn tăng thêm.
"Giữa năm 2013, hải quan lại có thêm yêu cầu bắt buột các nhà nhập khẩu phải nộp bản sao hoàn chỉnh của mỗi hợp đồng chính thức cho từng chiếc xe nhập khẩu nguyên chiếc được thông quan", một doanh nhân kinh doanh ô tô khối EuroCham than.
Theo EuroCham, việc các thủ tục hành chính quá nhiều không chỉ gây lãng phí thời gian, gây áp lực cho các cơ quan hữu trách mà còn quá tốn kém... giấy mực!
Theo quy định hiện nay, mỗi chiếc xe nhập khẩu phải có một bản hợp đồng với độ dài trung bình 80 trang giấy. Nếu thu nhỏ hết mức và in 2 mặt thì còn 20 tờ, khi sao chép thành 3 bản hoàn chỉnh (1 bản cho nhà nhập khẩu, 1 cho cơ quan hải quan và 1 cho đơn vị thông quan), mỗi chiếc ô tô nhập về Việt Nam phải tốn đến 60 tờ giấy.
Như vậy, với 250.000 xe nhập về trong năm 2012 chỉ riêng thủ tục này đã làm tốn đến 1,5 triệu tờ giấy!
Cải cách thủ tục hải quan giúp giá ô tô giảm
Không chỉ vậy, các yêu cầu về hành chính trong đăng kiểm, bảo lãnh ngân hàng và hải quan, kiểm duyệt... cũng hết sức phiền phức. Chẳng hạn, xe nhập khẩu nguyên chiếc từ các nước đều đã vượt tiêu chuẩn khí thải Euro 2 mà Việt Nam đang áp dụng, nhưng vẫn bắt buộc phải đi đăng kiểm. Điều này là không cần thiết vì tất cả các dòng xe từ châu Âu đều được sản xuất trong quy trình nghiêm ngặt và mỗi chiếc xe cũng đã được kiểm duyệt bởi các cơ quan kiểm nghiệm châu Âu.
Trước những thủ tục rắc rối, tốn kém đó, EuroCham kiến nghị hải quan được thực hiện một trong hai giải pháp: các nhà nhập khẩu đăng ký trong thời hạn một vài năm, cùng thời hạn và sử dụng cùng loại giấy tờ với cơ quan đăng kiểm hoặc xác nhận mỗi năm một lần có thể áp dụng số tham chiếu của nhà nhập khẩu để bãi bỏ yêu cầu DN phải nộp bản sao hợp đồng để thông quan cho từng chiếc xe.
Các thành viên EuroCham cho rằng, việc giảm các chi phí phát sinh không cần thiết sẽ giúp làm giảm giá bán lẻ ô tô tại Việt Nam. Một khi giá ô tô rẻ, người sử dụng ô tô nhiều thì ngành ô tô Việt Nam mới có thể phát triển.

Thực trạng câu chuyện: Vinamilk "thâu tóm" 70% cổ phần một công ty sữa của Mỹ

Driftwood Dairy là một công ty sữa lớn với doanh thu hàng trăm triệu USD/năm, chuyên sản xuất và phân phối các sản phẩm từ sữa như: sữa tươi, sữa đậu nành, kem sữa…, nước hoa quả và đồ ăn nhẹ….Các sản phẩm này được phân phối tại thị trường Mỹ và có thể xuất khẩu. Bên cạnh đó, Driftwood Dairy cũng là công ty cung cấp sữa lớn nhất cho các trường học tại bang California, mở rộng các kênh phân phối đến bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe, siêu thị, nhà hàng, tiệm bánh, quán ăn...
Mới đây, Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk - mã VNM) công bố thông tin đã nhận được giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài, về việc chi 7 triệu USD mua lại 70% cổ phần của công ty Driftwood Dairy tại bang California (Mỹ).
Một quầy bán sữa của Driftwood Dairy tại Mỹ
Driftwood Dairy là một công ty sữa lớn với doanh thu hàng trăm triệu USD/năm, chuyên sản xuất và phân phối các sản phẩm từ sữa như: sữa tươi, sữa đậu nành, kem sữa…, nước hoa quả và đồ ăn nhẹ….Các sản phẩm này được phân phối tại thị trường Mỹ và có thể xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Driftwood Dairy cũng là công ty cung cấp sữa lớn nhất cho các trường học tại bang California, mở rộng các kênh phân phối đến bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe, siêu thị, nhà hàng, tiệm bánh, quán ăn...
Năm 2012, Driftwood Dairy đạt doanh thu khoảng 100 triệu USD nhưng hoạt động chưa hiệu quả, và được định giá ở mức 10 triệu USD.
Được biết, năm 2009, Vinamilk đã đầu tư 179 tỷ đồng để nắm giữ 19,3% cổ phần của công ty sữa Miraka tại New Zealand, chuyên sản xuất sản phẩm bột sữa nguyên kem chất lượng cao, và đầu năm 2013, Vinamilk cũng đã tăng vốn đầu tư vào Miraka.
Tháng 11/2013, Vinamilk chính thức cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam sản phẩm mới sữa tươi 100% nhãn hiệu Twin Cows được sản xuất tại New Zealand.

Chia sẻ cùng bạn thị trường bán lẻ: Năng nhặt chặt bị

Đánh giá về tính hiệu quả của chuỗi cửa hàng Satrafoods, ông Phạm Bá Minh Lộc, Trưởng phòng Marketing, Trung tâm Điều hành Cửa hàng Thực phẩm tiện lợi Satrafoods, cho biết, nếu tính theo số lượng bán lẻ thì lãi gộp không cao, nhưng các cửa hàng Satrafoods giải quyết tốt vấn đề vòng quay vốn, tạo được doanh số cao bù nên cũng đắp lại.
Đánh lớn xen đánh điểm
Saigon Co.op, BigC, Tổng công ty TM Sài Gòn, Citimart đều triển khai những cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ, len lỏi trong các khu dân cư nhằm khuếch trương thương hiệu, giảm hàng tồn kho và mở độ phủ cạnh tranh.
Theo Nielsen Việt Nam, hiện TP.HCM có 500 cửa hàng tiện lợi, trong đó, 60% số cửa hàng này thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, nếu nói về mô hình cửa hàng thực phẩm quy mô nhỏ (food stores) thuộc hệ thống các siêu thị lớn thì chỉ có: Co.op Food, Satrafoods, New Chợ và Vissan. Ngoài ra, còn có các cửa hàng chuyên doanh về chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp như Guardian và các cửa hàng tiện lợi.
Năm 2008, 4 cửa hàng thực phẩm Co.op Food đầu tiên do Công ty TNHH MTV Thực phẩm Saigon Co.op, trực thuộc Liên hiệp HTX TM TP.HCM (Saigon Co.op) mở. Đến nay, đã có 70 cửa hàng Co.op Food với khoảng 10.000 mặt hàng nhưng chủ yếu là nhóm hàng thực phẩm, phủ khắp các quận huyện, các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TP.HCM.
Với mô hình Co.op Food, Saigon Co.op luôn đặt mục tiêu mở rộng hai mảng: siêu thị và các cửa hàng thực phẩm. Bình quân, nhà phân phối này mở từ 10 - 12 siêu thị/năm. Đến thời điểm này, con số tăng trưởng của hệ thống Co.opmart đã tăng hơn 20% so với cùng kỳ.
Mục tiêu hướng tới là con số 100 siêu thị, cửa hàng tiện lợi vào năm 2015 và dự kiến, đến năm 2020 sẽ có khoảng 20 đại siêu thị phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân.
Thay vì phát triển mô hình siêu thị truyền thống, Saigon Co.op đang mở ra nhiều mô hình mới, trong đó có mô hình cửa hàng thực phẩm nhỏ nhưng linh hoạt hơn. Tiêu chí các cửa hàng thực phẩm Co.op Food là có quy mô từ 100 - 500m2, phục vụ cho dân cư trong vòng bán kính 500m.
Song, những cửa hàng Co.op Food sau này lại được mở rộng diện tích hơn. Chẳng hạn, Co.op Food ở KCN Vĩnh Lộc có diện tích 1.000m2, vốn đầu tư 5 tỷ đồng, với 10.000 mặt hàng.
Gần đây, hệ thống cửa hàng Satrafoods thuộc Tổng công ty TM Sài Gòn cũng không ngừng mở rộng. Từ năm 2011 đến nay cũng đã có 29 cửa hàng đi vào hoạt động, với gần 2.000 mặt hàng thực phẩm thiết yếu, hàng gia dụng... và hàng bình ổn giá (gạo, đường, dầu ăn, trứng, thịt gia súc...). Dự kiến sẽ có thêm 3 cửa hàng tiếp tục được mở trong tháng 12/2013.
Kế hoạch dài hạn của DN phân phối là mở rộng mạng lưới và địa bàn: 
-Mở rộng địa bàn TP.HCM: 78%
-Mở rộng địa bàn trong vùng: 22%
-Mở rộng địa bàn trên toàn quốc: 11%
-Mở rộng địa bàn ra nước ngoài: 11%
(Nguồn: Quang Minh Research & Consulting)
Trong khi đó, với BigC, thuộc Tập đoàn Casino Group (Pháp), sau khi mở các siêu thị, nhà bán lẻ này cũng bắt đầu mở các thương hiệu trực thuộc có quy mô nhỏ hơn như 5 cửa hàng New Chợ (diện tích từ 300 - 500m2/ cửa hàng).
Đồng thời, năm ngoái, nhà phân phối này cũng đã mở thêm concept (mô hình) mới là cửa hàng tiện lợi C Express. Chiến thuật của Big C Việt Nam với chuỗi New Chợ và C Express là giúp thương hiệu Big C phủ rộng đến các khu dân cư.
Hệ thống siêu thị Citimart cũng đầu tư vào các cửa hàng nhỏ bằng cách mua lại hệ thống Family Mart của Malaysia tại các trung tâm mua sắm Parkson, TP.HCM. Song song đó, Citimart cũng đang phát triển hệ thống 8 cửa hàng tiện lợi thương hiệu B&B (Best&Buy).
Chia sẻ về chiến lược sắp tới, bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, chủ đầu tư hệ thống siêu thị Citimart, cho hay: "Chiến lược của Citimart không chỉ mở siêu thị mà còn phát triển cửa hàng nhỏ, siêu thị mini để khai thác tất cả các phân khúc bán lẻ trên thị trường. Hiện tại, 4 cửa hàng Family Mart tại 4 trung tâm Parkson và 8 cửa hàng B&B vẫn hoạt động khá tốt. Không dừng lại ở số lượng trên, phía Citimart còn đang muốn mở rộng hệ thống phân phối trên nhiều lĩnh vực".
Đầu năm 2010, FamilyMart đã hợp tác với Tập đoàn Phú Thái để mở cửa hàng Family Mart đầu tiên ở TP.HCM. Sau một thời gian kinh doanh, cùng với việc đóng cửa cửa hàng tại TP.HCM, có nhiều thông tin cho rằng Family Mart sẽ rút khỏi Việt Nam.
Tuy nhiên, tháng 7/2013, FamilyMart đã mở cửa trở lại và theo kế hoạch, đến hết năm 2013, Family Mart sẽ mở tổng cộng 20 cửa hàng, để đến cuối năm 2014, lấn sân thị trường Hà Nội. Cùng với việc mở cửa hàng trở lại, FamilyMart cũng đang tìm kiếm đối tác Việt Nam để thành lập liên doanh mới, cùng phát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi.
Nhỏ dễ lách
Hơn 1.000 địa điểm bán lẻ hiện đại trong cả nước là con số còn khiêm tốn và chưa đáp ứng đủ nhu cầu của 90 triệu dân. Vì thế, những chuỗi bán lẻ nhỏ vẫn có nhiều cơ hội phát triển.
Số liệu của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cho thấy, tổng mức doanh số bán lẻ 9 tháng đầu năm 2013 tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2012, thấp hơn mức tăng từ 17,3 - 22% của các năm trước. Tỷ lệ hàng tồn kho cao như đồ uống tăng 165,6%; thuốc, hóa dược và dược liệu 54,8%; các sản phẩm từ giấy tăng 38,2%; thực phẩm 23,2%...
Hiệp hội này cũng phân tích, hình thức kinh doanh nhỏ linh hoạt như siêu thị mini, cửa hàng tiện ích sẽ hợp lý hơn. Sức mua giảm, chi phí mặt bằng tăng... khiến người tiêu dùng chuyển dịch từ những đại siêu thị sang cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini với số lượng tăng đến chóng mặt.
Theo Hãng nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel, cửa hàng tiện lợi và siêu thị mini đang có mức tăng trưởng tới 74% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi mức tăng trưởng ở các siêu thị và đại siêu thị chỉ khoảng 6%. Theo thống kê, mỗi tháng có thêm từ 2 - 3 siêu thị mini mới được thành lập.
"Thế mạnh cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ trong và ngoài nước cần căn cứ vào ba yếu tố: hàng hóa, đặc tính hàng hóa và cửa hàng. Riêng về đặc tính hàng hóa, các doanh nghiệp nội địa hơn hẳn đối thủ nước ngoài về giá, dòng hàng và dịch vụ khách hàng.
Còn về thương hiệu và quảng cáo, khuyến mãi, khối nội vẫn luôn ghi điểm", ông Lê Văn Hà, Giám đốc Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Phát triển Quang Minh (Quang Minh Research & Consulting), phân tích.
Nhận định về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, cho biết thêm, sự khác biệt của chuỗi cửa hàng tiện lợi Việt Nam nằm ở nhóm hàng đồ dùng cơ bản hằng ngày, trong đó thực phẩm chiếm 60 - 70%.
Bên cạnh thuận lợi về đi lại, giá cả ở những siêu thị tiện lợi cũng phải chăng, rẻ hơn các siêu thị lớn từ 5 - 10% do chi phí thấp và có nhiều sản phẩm thiết yếu với đời sống hằng ngày của người dân.
Trong khi, các cửa hàng tiện lợi của nước ngoài kinh doanh thực phẩm khô và các mặt hàng liên quan đến y tế, thực phẩm chức năng. Điển hình là hệ thống các cửa hàng Guardian thuộc Tập đoàn Dairy Farm (nhà bán lẻ hàng đầu châu Á, đang hoạt động với hơn 5.000 cửa hàng bán lẻ trong khu vực) và đang mở rộng tại thị trường Việt Nam.
Hai chuỗi cửa hàng New Chợ và C Express được Big C hợp tác với đối tác vì thế hàng hóa, dịch vụ, các hoạt động kinh doanh đều được Big C Việt Nam cung ứng, hỗ trợ và tư vấn.
Hiện nay, trên thế giới, Casino Group (Pháp) đang phát triển các concept siêu thị mini mang thương hiệu Mini BigC, cửa hàng giảm giá (DIS) và cửa hàng chuyên doanh về chăm sóc sức khỏe và làm đẹp (mang thương hiệu Pure).
Tại Thái Lan, đến giữa năm 2012, chỉ còn thiếu mô hình cửa hàng giảm giá, cửa hàng tiện lợi; trong khi đó, Mini BigC đã phát triển được 75 cửa hàng và Pure là 69 cửa hàng. Nếu so với thị trường Thái Lan, số lượng cửa hàng, cũng như loại hình cửa hàng tại Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn.
Trong 6 mục tiêu phát triển, Casino Group nhắm vào việc mở rộng sự hiện diện tại các thị trường mới nổi, nhiều tiềm năng, trong đó có Brazil, Colombia, Thái Lan và dĩ nhiên là không thể thiếu Việt Nam. Tại Việt Nam, Casino Group đặt trọng tâm tiếp tục mở rộng trên cơ sở mô hình kép là các đại siêu thị và cửa hàng tiện lợi C Express.
Một công đôi việc
Đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh khiến mô hình các cửa hàng bán lẻ được nhiều chuỗi bán lẻ tận dụng để gia tăng lợi nhuận trong thời điểm khó khăn.
Ông Đinh Đăng Khoa, Giám đốc Công ty TNHH TM-DV Bách Sơn (đơn vị phân phối sản phẩm hàng tiêu dùng), cho rằng "đối với làm thương mại, ai quản lý hàng tồn kho tốt sẽ thắng".
Các nhà phân phối mở ra nhiều mô hình khác nhau không chỉ giúp việc luân chuyển hàng hóa nhanh, giảm hàng tồn kho mà còn tạo sức cạnh tranh về độ phủ.
Theo phân tích của các chuyên gia trong ngành bán lẻ, siêu thị phải cần từ 5 - 10 năm (tại khu vực trung tâm đông dân cư) và 10 - 15 năm (khu vùng ven) mới thu hồi vốn.
Trong khi đó, các cửa hàng nhỏ hơn như food stores hay minimart chỉ mất một năm là thu hồi vốn và sau hai năm là có thể thu lãi. Một cửa hàng tiện lợi được gọi là hiệu quả khi đạt doanh thu 20 triệu đồng/ngày.
Thực tế, với 80 - 90% là hàng thực phẩm, các cửa hàng Co.op Food với diện tích nhỏ cũng đạt doanh thu 30 triệu đồng/ngày. Trong khi những cửa hàng lớn hơn doanh thu lên đến 50 - 70 triệu đồng/ngày. Với đà tăng trưởng tốt, Saigon Co.op lên kế hoạch phủ dày hơn các cửa hàng này với tốc độ 15 cửa hàng mới/năm.
- Thương mại bình quân đầu người năm 2012 đạt khoảng 26,2 triệu đồng/người, bình quân 1 tháng đạt gần 2,2 triệu đồng; năm 2013 đạt khoảng 29,2 triệu đồng/người, bình quân 1 tháng đạt trên 2,4 triệu đồng.
- Một số tên tuổi lớn trên thế giới sẽ sớm có mặt tại thị trường bán lẻ Việt Nam, gồm: Lotte Mart (đã quyết định tăng đầu tư vào Việt Nam đến 50 triệu USD), Takeshimaya (đã thuê mặt bằng rộng 15.000m² tại trung tâm quận 1 TP.HCM), Aeon (đầu tư Trung tâm mua sắm Aeon Tân Phú, TP.HCM trị giá 109 triệu USD). Auchan - tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Pháp công bố sẽ đầu tư 500 triệu USD vào Việt Nam. Wal-Mart và Carrefour cũng đang ngấp nghé đầu tư.
Dù rằng, phát triển với mục tiêu tăng độ phủ, phục vụ chương trình bình ổn giá, nhưng những cửa hàng Satrafoods đều có doanh thu bình quân trên 20 triệu đồng/ ngày. Những cửa hàng lớn tại khu vực đông dân cư doanh thu đạt từ 60 - 70 triệu đồng/ ngày.
Đánh giá về tính hiệu quả của chuỗi cửa hàng Satrafoods, ông Phạm Bá Minh Lộc, Trưởng phòng Marketing, Trung tâm Điều hành Cửa hàng Thực phẩm tiện lợi Satrafoods, cho biết, nếu tính theo số lượng bán lẻ thì lãi gộp không cao, nhưng các cửa hàng Satrafoods giải quyết tốt vấn đề vòng quay vốn, tạo được doanh số cao bù nên cũng đắp lại.
"Cách làm này đang rất phù hợp với hình thức mua sắm mới, nên thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng nhiều hơn do thực phẩm tươi, chất lượng, giá tốt đặc biệt là yếu tố khoảng cách ngắn (gần nhà, chỗ làm...) đã trở thành ưu điểm mà các food stores vượt hơn so với mô hình siêu thị và chợ truyền thống", ông Lộc cho biết.
Theo thống kê của Quang Minh Research & Consulting, các DN bán lẻ đa số có doanh thu trên 200 tỷ đồng/năm chiếm 88,89%. Đồng thời, 89,9% DN bán lẻ có lãi trong 3 năm qua. DN bán buôn, bán lẻ nhận định đối thủ cạnh tranh là các DN tư nhân trong nước.
Trong đó, công ty, DN tư nhân trong nước chiếm 78%, 22% là công ty tập đoàn nhà nước; 33% là công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và 11% là hộ gia đình. Tuy nhiên, thương hiệu vẫn là yếu tố lớn nhất quyết định lợi thế cạnh tranh cho DN phân phối; tiếp sau đó là việc kết hợp vào chuỗi cung cấp dịch vụ hàng hóa của công ty mẹ.
Dù không kinh doanh bán lẻ nhưng từ nhiều năm nay, Vissan cũng tham gia rất mạnh vào kênh bán hàng này. Kể từ cửa hàng Vissan đầu tiên được mở tại TP.HCM, đến nay, Vissan có 105 cửa hàng tại TP.HCM, 10 cửa hàng tại Đà Nẵng và 10 cửa hàng ở Hà Nội.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho biết, các cửa hàng này đã mang doanh số, lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Mặc dù xác định đây là cửa hàng giới thiệu sản phẩm nhưng Vissan đầu tư như một cửa hàng tiện lợi với đầy đủ các nhóm hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu từ tươi sống đến đồ khô và thậm chí có cả các mặt hàng hóa mỹ phẩm, công nghệ.
Ông Mười cho rằng, ngoài việc quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm mới, cửa hàng còn là nơi khảo sát thị trường, xu thế tiêu dùng. Bên cạnh đó, cửa hàng còn là nơi đối trọng với thị trường bên ngoài, thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá của thành phố.
"Kinh doanh trong thời điểm này không hề dễ dàng. Mặc dù cửa hàng ở vùng ven, nhưng mỗi tháng chi phí mặt bằng cũng lên đến 20 triệu đồng, đó là chưa kể chi phí, điện, nước, nhân viên... Tuy nhiên, các cửa hàng Vissan đã có lãi và tự nuôi bộ máy quản lý. Do đó, dù có khó khăn Vissan vẫn tiếp tục đẩy mạnh, phát triển hệ thống cửa hàng này", ông Mười nói.

Cùng tham khảo qua quà Tết 2014: Gà Bắc, bưởi Nam

Bánh là sự kết hợp giữa 3 hương vị: Nếp trắng, lá chuối thơm cùng yến sào tinh khiết. Dù chưa công bố rộng rãi, nhưng thông tin nắm được từ Công ty cho biết, khoảng nửa tháng nữa sẽ có hàng ra thị trường, giá bán khoảng từ 500.000 - 600.000 đồng cặp (khoảng 1kg). Ngoài mua hàng trực tiếp, phía Công ty cũng chấp nhận thanh toán bằng voucher.
Nếu mọi năm, thị trường phía Nam luôn đi đầu về những sản phẩm, dịch vụ Tết độc đáo, thì năm nay, phía Bắc bỗng nhiên nổi trội hẳn. Ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam, sở hữu Trung tâm Nghiên cứu gà chín cựa cho biết, sau khi đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng, Trung tâm đang có khoảng 63.000 con gà chín cựa các loại, trong đó sẽ tung khoảng 10.000 con ra thị trường phục vụ Tết Nguyên đán năm nay.
Ông So tiết lộ: "Chúng tôi muốn xây dựng một thương hiệu gà cúng đặc biệt, thiên về tâm linh đó là gà chín cựa". Để tăng tính chất trang trọng, Dabaco sẽ bán loại gà cúng đặc biệt này cùng với một mẫu lồng tre cầu kỳ và chắc chắn. Chưa công bố giá bán chính thức, nhưng theo ông So thì vừa qua Công ty đã từ chối lời đề nghị mua cả ngàn con gà với giá 3 triệu đồng/con.
Quý và được ưa chuộng không kém gà chín cựa là gà Đông Tảo, giống gà chân to đặc trưng tại xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đây cũng là giống gà đang được săn lùng để làm quà biếu Tết 2014, với giá bán rất đắt.
Hiện một đôi gà trống và mái cân nặng tổng cộng khoảng 9kg được ra giá từ 10 - 11 triệu đồng, đôi gà nhỏ hơn giá 5 - 6 triệu đồng, gà giống thuần chủng cỡ nắm tay cũng có giá 250.000 đồng đến 1 triệu đồng mỗi con.
Ngay từ mấy tháng trước, nhiều người đã chọn cách mua gà giống về nuôi để làm quà Tết thay vì bỏ ra cả chục triệu đồng mua gà đã đủ trọng lượng. Nếu gà chín cựa được coi trọng do tính chất tâm linh thì gà Đông Tảo lại nổi tiếng bởi thịt rất thơm ngon.
Trong khi thị trường phía Bắc chú trọng đến sản vật mang tính truyền thống, tâm linh và quý hiếm, thì ở thị trường phía Nam, tính sáng tạo trên các sản phẩm Tết vẫn được duy trì. Sau khi thành công với bánh Trung thu nhân tổ yến, năm nay, Công ty Yến sào Sài Gòn Anpha đi tiên phong khi tung ra sản phẩm bánh chưng bánh tét nhân yến.
Bánh là sự kết hợp giữa 3 hương vị: Nếp trắng, lá chuối thơm cùng yến sào tinh khiết. Dù chưa công bố rộng rãi, nhưng thông tin nắm được từ Công ty cho biết, khoảng nửa tháng nữa sẽ có hàng ra thị trường, giá bán khoảng từ 500.000 - 600.000 đồng cặp (khoảng 1kg). Ngoài mua hàng trực tiếp, phía Công ty cũng chấp nhận thanh toán bằng voucher.
Dưa hấu, bưởi vẫn luôn là sản phẩm được trông chờ nhiều nhất vào mỗi dịp Tết đến nhờ hình thù độc đáo do các chủ vườn sáng tạo. Tết năm nay, ông Trần Thanh Liêm, ở phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ, cho biết Tết Giáp Ngọ này sẽ cung ứng 1.000 quả dưa hấu (500 cặp) độc đáo các loại cho thị trường.
Sản phẩm mới nhất ông Liêm đã sản xuất thành công và sẽ tung ra thị trường Tết này là 50 cặp dưa hấu hình trái tim có hình bản đồ Việt Nam nổi rõ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với trọng lượng từ 2 - 2,2 kg/trái. Loại này ông Liêm dự kiến giá bán khoảng 8 triệu đồng/cặp.
Trong khi đó, ông Võ Trung Thành, Chủ nhiệm CLB Khuyến nông Phú Trí A, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang - còn chế tạo 2 cái khuôn có hình đồng tiền cùng thỏi vàng ốp lên phần bụng trái bưởi và trái dưa hấu hồ lô.
Theo ông Thành, thông qua 2 sản phẩm mới này, ông và các thành viên trong CLB muốn gửi đến bà con thông điệp về sự may mắn, phát tài, trường thọ trong dịp năm mới.
Riêng Bưởi Hồ Lô Tài Lộc thỏi vàng đồng tiền là sản phẩm chiến lược của ông trong Tết năm 2015. Tuy nhiên, trong năm nay, ông Thành trồng thử nghiệm ở số lượng hạn chế, để năm sau sẽ đi vào sản xuất đại trà.
Ngoài ra, sản phẩm bưởi Hồ Lô Tài Lộc truyền thống có kiểu dáng là hình chiếc hồ lô, hai bên có hai chữ nổi "Tài" và "Lộc" cùng bưởi Hồ Lô lò luyện đan Phúc Lộc Thọ với ba mặt của quả bưởi in ba chữ nổi "Phúc" "Lộc" và "Thọ” cũng vẫn được Phú Trí A đưa ra thị trường như mọi năm.
Dự kiến giá bưởi và dưa hấu hồ lô mẫu cũ sẽ tăng 25%, từ 750.000 đồng/cặp lên 1 triệu đồng/cặp so với dịp Tết năm trước. Riêng bưởi và dưa hấu mẫu mới sẽ có giá cao gấp 2 lần so với mẫu cũ.
Theo nhận định của các nhà phân phối, Tết năm nay nhu cầu hàng quà Tết 2014 của thị trường vẫn rất lớn. Đơn vị quản lý trang web: remoingay.com cho biết, hiện mỗi ngày đơn vị này nhận được hàng trăm đơn đặt hàng của khách hàng.
Ngoài các giỏ quà Tết là các thương hiệu ngoại nhập sang trọng, giá khá cao, thì người dùng vẫn quan tâm nhiều hơn tới các sản phẩm độc, lạ và ý nghĩa như bưởi Hồ Lô, dưa hấu Hồ Lô, dưa hấu thỏi vàng.