Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Quá thấm hóa tràn đối với thị trường tã giấy

Bà Trần Lệ Hằng, Giám đốc Marketing nhãn hàng Hugges, cho biết: "Mỗi năm, chiến lược của Công ty đều tập trung cải tiến sản phẩm mới. Năm 2012 - 1013, Kimberly Clark vẫn tiếp tục đầu tư cải tiến sản phẩm chất lượng cao nhưng giá vẫn không tăng". Trong 3 nhãn hàng của Kimberly Clark tại thị trường Việt Nam thì nhãn hàng Kotex có doanh thu nhiều nhất khi chiếm 75 - 80% doanh số của toàn công ty.
Sau thành công tại các quốc gia châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, nhiều nhãn hàng tã giấy nổi tiếng thế giới như Luvs, Drypers (Mỹ), Mamy Poko (Nhật Bản) hay Baby Love (Canada) đều nhắm tới thị trường Việt Nam, khiến sức cạnh tranh tại đây ngày càng nóng.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, thị trường tã giấy tại Việt Nam vẫn chỉ nổi lên một vài thương hiệu: Diana (thành viên Tập đoàn Unicharm, Nhật Bản) với nhãn hiệu Bobby và Mamypoko (hàng nhập khẩu từ Thái Lan, nhãn hiệu của Tập đoàn Unicharm); Kimberly Clark (Mỹ) với nhãn hiệu Huggies; Procter & Gamble (P&G, Mỹ) với nhãn hiệu Pampers; Công ty KyVy (Việt Nam) với thương hiệu Bino...
Theo Công ty Nghiên cứu thị trường TNS, tốc độ tăng trưởng bình quân của toàn ngành hàng tã giấy đạt 28%/năm và mức tăng trưởng này dự báo tiếp tục được duy trì trong năm 2013. Đợt sóng ngầm đình đám nhất khiến cán cân thị trường thay đổi là thương vụ Unicharm mua lại 95% cổ phần của Diana.
Với 25% thị phần tã giấy và giấy vệ sinh tại thị trường châu Á, việc Unicharm mua lại Diana (Việt Nam) được đánh giá là thương vụ thành công của cả hai bên mua và bán. Với bên mua, kế hoạch chinh phục thị trường Việt Nam, Lào, Campuchia, miền Nam Trung Quốc và xa hơn là tham vọng chiếm lĩnh thị trường châu Á đang tiến tới tầm tay.
Unicharm hiện chiếm khoảng 25% thị phần tã giấy và giấy vệ sinh tại thị trường châu Á. Mới đây, Unicharm đã mua lại 100% cổ phần của Công ty CFA Pte. Ltd (Singapore) và thâu tóm toàn bộ Công ty Mycare (Myanmar).
Còn với Diana, theo ông Đỗ Anh Tú, Tổng giám đốc Diana "bán Diana cho Unicharm để Diana trở thành thương hiệu toàn cầu". Song, sâu xa hơn, một khi Unicharm đã quyết tâm chinh phục thị trường Việt Nam, nếu Diana Việt Nam không bán thì tập đoàn Nhật cũng đủ sức đánh bật Diana. Và quyết định này theo ông Tú là đúng đắn, bởi sau 6 tháng, kết quả kinh doanh năm 2012 của Diana đã tăng trên 30%.
Hiện trên thị trường có khoảng 50 nhãn hiệu tã giấy trẻ em. Nhưng các sản phẩm Bobby của Diana, Huggies của Kimberly Clark và Pampers của P&G đã chiếm tới 75% thị phần.
Tháng 11/2012, Công ty P&G đã nhanh chóng rót thêm 80 triệu USD để mở rộng nhà máy Pampers và lắp đặt dây chuyền sản xuất các loại tã giấy mới nhất với mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh. Đến nay, tổng vốn đầu tư cho hai nhà máy của P&G tại Bình Dương đã đạt gần 200 triệu USD và sẽ tăng hơn nữa trong 2 - 3 năm tới.
Ông Emre Olcer, Tổng giám đốc P&G Việt Nam, cho hay, hiện tại dân số Việt Nam vượt ngưỡng 88 triệu người trong năm 2012 và đa phần là dân số trẻ với nhu cầu lớn, thực sự là một thị trường rất hấp dẫn không chỉ với P&G mà còn là những công ty khác.
Khoảng 1,6 triệu em bé chào đời trong một năm là một con số ấn tượng đi kèm theo với nhu cầu về chăm sóc rất lớn. Tuy nhiên, thị trường Việt Nam phần nào đã bão hòa ở phân khúc bình dân, nhưng vẫn thiếu những sản phẩm có chất lượng và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu ngày cao.
Vì vậy, P&G đang nghiên cứu rất kỹ thị trường để phát triển sản phẩm có chất lượng cao đa dạng về chủng loại, mức giá, phù hợp cho mọi phân khúc thị trường, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu. Đầu tư mở rộng nhà máy Pamper tại Việt Nam, P&G nhằm tăng cường sản lượng xuất khẩu ra khu vực châu Á, châu Âu và châu Mỹ.
"Để có được thành công trong ngành hàng tã giấy, yếu tố quyết định là chất lượng sản phẩm. Song song đó là chiến lược sản phẩm mới", ông Huỳng Tấn Phước, Phó giám đốc Bán hàng toàn quốc Công ty Diana, cho biết.
Vì vậy, sau cuộc chạy đua mở rộng sản xuất ở phân khúc sản phẩm chất lượng cao, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều đang cạnh tranh sản phẩm mới.
Cùng tầm nhìn thị trường với P&G, các sản phẩm của Kimberly Clark sản xuất tại nhà máy ở tỉnh Bình Dương không chỉ dành cho thị trường Việt Nam mà đã được xuất khẩu cho thị trường Úc, Malaysia, Indonesia, và tới đây sẽ là thị trường châu Âu, châu Mỹ La tinh. Hiện tỷ lệ xuất khẩu của Diana là 10 - 20%, trong vòng thời gian tới, tỷ lệ có thể lên 50%.
Bà Trần Lệ Hằng, Giám đốc Marketing nhãn hàng Hugges, cho biết: "Mỗi năm, chiến lược của Công ty đều tập trung cải tiến sản phẩm mới. Năm 2012 - 1013, Kimberly Clark vẫn tiếp tục đầu tư cải tiến sản phẩm chất lượng cao nhưng giá vẫn không tăng". Trong 3 nhãn hàng của Kimberly Clark tại thị trường Việt Nam thì nhãn hàng Kotex có doanh thu nhiều nhất khi chiếm 75 - 80% doanh số của toàn công ty.
Mặc dù bị xem là đối thủ nhẹ ký nhất của các đối thủ nước ngoài nhưng thương hiệu tã gấy Bino vẫn "âm thầm" phát triển. Có thể sản lượng và thị phần không cao như đối thủ, nhưng nhiều năm qua, Bino vẫn liên tục cải tiến sản phẩm và đã xuất khẩu tã giấy ra các nước như Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Campuchia, Đài Loan và Algeria...
Được biết, KyVy đang dự định tạo "sóng ngầm" cho ngành hàng tã giấy bằng các dự án mở rộng nhà máy và cạnh tranh với Unicharm sản xuất tã giấy cho người già, một chiến lược mà đến thời điểm này, ngay cả các công ty lớn như Kmberly Clark cũng chưa tính đến.
Trong khi đó, Unicharm tiếp tục đầu tư vào nhà máy tại Bắc Ninh với 25 dây chuyền máy móc hiện đại, nâng công suất tã giấy trẻ em lên 1/4 tỷ miếng/ năm, tã người lớn 65 triệu miếng/ năm. Theo giới phân tích, việc đầu tư khá mạnh tay của Unicharm vào ngành hàng tã giấy, cho thấy tập đoàn này đang gia tăng tốc độ mở rộng tại thị trường Việt Nam và châu Á.
Vì vậy, thị trường tã giấy Việt Nam sẽ tiếp tục khốc liệt và dự đoán sẽ còn nhiều đợt sóng ngầm xảy ra khi hiện nay các thương hiệu tã giấy nổi tiếng thế giới cũng đang có kế hoạch đầu tư sâu vào Việt Nam.
Tăng trưởng của Unicharm

Khám phá bí ẩn thị trường F&B: Làm chủ cuộc chơi

Tôi nhận thấy việc các nhà sản xuất cà phê, bánh tươi quốc tế đang chiếm lĩnh phân khúc khách hàng cao cấp tại thị trường Việt Nam không hề ảnh hưởng đến doanh số của doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, thị trường bánh tươi Việt Nam còn rất lớn, cả ở thành thị và nông thôn. Chỉ cần một người mua 1 chiếc bánh/ngày/90 triệu dân là nhà sản xuất bánh đã có thể sống rất khỏe. Trái với những suy nghĩ phải đối đầu với đối thủ ngoại, theo tôi sự đa dạng về các thương hiệu trong lĩnh vực bánh tươi còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và phát triển hơn cho toàn thị trường. Điều quan trọng quyết định thắng – thua chính là ở bản thân mỗi doanh nghiệp.
Khi thị trường thực phẩm và đồ uống (F&B) dậy sóng với sự đổ bộ của nhiều thương hiệu đa quốc gia, điều gì sẽ xảy ra với các nhà đầu tư trong ngành?
Ông Andrew Nguyễn, Giám đốc Công ty Giải khát và Thực phẩm Quốc tế, quản lý chuỗi cà phê The Coffee Bean & Tea Leaf:
Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu!
Thị trường cà phê Việt Nam chưa phát triển đến mức đủ lớn để có thể thu hút đầy đủ những thương hiệu cà phê hàng đầu thế giới vào kinh doanh. Tại Mỹ đã có hàng chục, thậm chí hàng trăm thương hiệu chuyên về cà phê và bánh tươi dành cho những đối tượng khách hàng khác nhau, từ cao cấp đến bình dân, theo những gu riêng của khách hàng. Điều này thể hiện qua cách bài trí, thiết kế không gian, cũng như tạo ra các loại thức uống của từng thương hiệu. Chẳng hạn, có những công ty sáng tạo nên các không gian dành riêng cho tài tử điện ảnh, đó là nơi họ không bị quấy rầy bởi những người hiếu kì…
Do vậy, tùy từng thương hiệu mà cách định vị khách hàng của họ cũng sẽ khác nhau. Một thương hiệu muốn đánh vào phân khúc cao cấp, chắc chắn chiến lược kinh doanh phải khác với thương hiệu muốn nhắm đến càng nhiều khách hàng càng tốt. Điều này là cực kỳ quan trọng. Vì thế, chúng tôi không xem những thương hiệu khác là đối thủ để chạy theo họ, thay vào đó The Coffee Bean sẽ có cách làm riêng để định vị và phát triển mình tại đây.
Ngành cà phê cũng như ngành bán lẻ tại Việt Nam, mới đang trong giai đoạn khởi đầu. Ngoài Gloria Jean’s Coffee, Starbucks, The Coffee Bean & Tea Leaf hay mới đây là Dunkin’ Donuts sẽ có nhiều thương hiệu ngoại khác du nhập vào Việt Nam trong thời gian tới. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu và hơn kém nhau chủ yếu ở cách làm của từng thương hiệu. So với các thương hiệu ngoại khác, lợi thế của chúng tôi là hoàn toàn làm chủ thương hiệu. Chúng tôi vẫn đang cố gắng phát triển thêm nhiều cửa hàng cho đến hết năm nay.
Ông Robert Trần, CEO Công ty tư vấn Robenny:
Lấy hiệu quả làm thước đo
Nhiều người nghĩ khi Dunkin’ Donuts vào thị trường Việt Nam thì cuộc cạnh tranh giữa các thương hiệu chuỗi cà phê và ăn uống như: Trung Nguyên, Highlands Coffee, Gloria Jeans & Coffee… sẽ quyết liệt hơn. Nhưng tôi nhìn thấy đây là một cơ hội để tiêu chuẩn hóa chất lượng các chuỗi tốt hơn. Người tiêu dùng cuối cùng sẽ được hưởng nhiều ưu đãi với chất lượng và tiêu chuẩn tốt, bởi trước sức ép của nhiều thương hiệu mới thì muốn tồn tại, doanh nghiệp nội địa phải làm tốt hơn nữa. Bản thân các sản phẩm cà phê hay thức ăn nhanh đều giống nhau, chỉ khác nhau về không gian, cung cách phục vụ. Dưới góc độ franchise, không chỉ riêng các nhà đầu tư mà hiện tại các quỹ đầu tư cũng phải chuyển hướng qua ngành F&B vì đây là một thị trường tiềm năng. Thuận lợi cho người đem franchise thức ăn nhanh vào Việt Nam là giai đoạn này người tiêu dùng trong nước đã quen thuộc với các sản phẩm này.
Người Việt hiện nay đi du lịch nhiều, nên họ không xa lạ gì với các thương hiệu F&B quốc tế… Nhưng rủi ro nằm ở giá cả và chi phí mặt bằng, bởi fastfood ở Việt Nam vẫn còn là ngành xa xỉ. Do tiền thuê mặt bằng đắt nên nhà kinh doanh không thể bán sản phẩm với giá rẻ. Nếu bán đắt mà có nhiều thương hiệu cùng cạnh tranh thì dù thị trường đông dân, nhưng quy mô thị trường không lớn sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn.
Một rủi ro nữa là người mua franchise ở Việt Nam chưa nghĩ đến việc bán franchise cho người Việt, vì ý tưởng của nhượng quyền thương hiệu là muốn xây dựng một doanh nghiệp, người mua tự làm chủ. Người bán franchise và người mua cùng nhau làm kinh doanh. Ở Mỹ và Canada nếu mình không đủ tiền mua franchise, ngân hàng có thể hỗ trợ thông qua việc đánh giá người mua (nếu có uy tín tài chính). Việc này khó có thể diễn ra tại Việt Nam nếu như bạn không có tài sản thế chấp. Còn với người có tiền thì tại sao họ phải bỏ ra vài triệu đôla để mua thương hiệu, trong khi tiền đi gửi ngân hàng lấy lãi có mức lãi suất tốt hơn. Nghĩa là đơn vị nào mua được franchise của nước ngoài đưa về nước sẽ phải tự điều khiển toàn bộ cuộc chơi này. Liệu nguồn lực tài chính và nhân lực có đủ giúp họ mở rộng đến vài chục, thậm chí vài nghìn cửa tiệm không? Là nhà kinh doanh, bạn phải suy tính tất cả điều này trên cơ sở hiệu quả đầu tư là số 1.
Ông Kao Siêu Lực, Tổng giám đốc DNTN Bánh kẹo Á Châu (ABC):
Thắng – thua nằm ở mỗi doanh nghiệp
Tôi không cho rằng sự có mặt của các thương hiệu bánh tươi nước ngoài là điều không tốt. Trái lại, tôi ủng hộ và mong sẽ có thêm nhiều nhãn hàng nữa, bởi vì một thị trường muốn phát triển bắt buộc phải có cạnh tranh, dù là ở Việt Nam hay trên thế giới. Hiện nay, với sự có mặt của các thương hiệu như: Tour Les Jours, Paris Baguette (Hàn Quốc), BreadTalk (Singapore), Le Tokyo Baum (Nhật Bản) hay mới đây nhất là Dunkin’ Donuts… cho thấy, thị trường đang đem đến nhiều lựa chọn đa dạng hơn cho khách hàng, cũng như tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước phát triển. Do số lượng các thương hiệu ngoại trong lĩnh vực bánh tươi sẽ không dừng lại như hiện nay mà sẽ gia tăng nhanh chóng khi Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào WTO trong vài năm tới, cho nên nếu doanh nghiệp nội không biết tận dụng thời cơ thì sẽ bỏ lỡ cơ hội rất đáng tiếc.
Tôi nhận thấy việc các nhà sản xuất cà phê, bánh tươi quốc tế đang chiếm lĩnh phân khúc khách hàng cao cấp tại thị trường Việt Nam không hề ảnh hưởng đến doanh số của doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, thị trường bánh tươi Việt Nam còn rất lớn, cả ở thành thị và nông thôn. Chỉ cần một người mua 1 chiếc bánh/ngày/90 triệu dân là nhà sản xuất bánh đã có thể sống rất khỏe. Trái với những suy nghĩ phải đối đầu với đối thủ ngoại, theo tôi sự đa dạng về các thương hiệu trong lĩnh vực bánh tươi còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và phát triển hơn cho toàn thị trường. Điều quan trọng quyết định thắng – thua chính là ở bản thân mỗi doanh nghiệp.
Chúng tôi không coi họ là những đối thủ cạnh cạnh mà là đối tác tạo ra động lực để mình hoàn thiện hơn. Khách quan mà nói, các nhà sản xuất bánh Việt Nam đều có thế mạnh là tay nghề khá, kỹ thuật cao. Tôi cho rằng, nếu doanh nghiệp phát huy tốt thế mạnh của mình và cải thiện điểm yếu thì chắc chắn đây sẽ là một thị trường nhiều tiềm năng.
TS. Đoàn Đình Hoàng, sáng lập chuỗi cà phê Passio:
Học hỏi, đổi mới và phát triển
Nếu xét về quy mô kinh doanh, thì Dunkin’ Donuts được đánh giá là “điểm sáng” trong số những thương hiệu thực phẩm và đồ uống (F&B) quốc tế đặt chân vào Việt Nam trong thời gian gần đây. Sự lớn mạnh của thị trường F&B với 90 triệu dân như Việt Nam thực sự trở thành điều đáng lo ngại cho các doanh nghiệp trong nước. Suy cho cùng, sẽ chỉ còn lại hai con đường cho các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn. Một là phải không ngừng học hỏi, đổi mới và phát triển. Nếu không sẽ tự đi vào con đường thứ hai mà không ai mong muốn, đó là tự diệt vong. Theo quan điểm cá nhân của tôi, một khi người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn đa dạng như thời điểm hiện nay, chắc chắn những tiêu chí của sản phẩm đồ uống hay thực phẩm như: ngon, chất lượng, giá cạnh tranh, dịch vụ tốt… đều được đặt lên hàng đầu.
Với sự hiểu biết của mình, tôi nhận thấy rằng tại khu vực Bắc Mỹ, những tập đoàn đa quốc gia khổng lồ như Dunkin’ Donuts hay Starbucks là những thương hiệu rất được giới trẻ lẫn giới trung niên ưa chuộng. Nguyên nhân chủ yếu là do họ bán sản phẩm với mức giá khá rẻ, chỉ khoảng từ 2 – 5 USD/sản phẩm. Những thương hiệu kể trên đều có thời gian ra đời và phát triển từ vài chục năm qua. Cho đến nay, bất chấp những biến động của nền kinh tế toàn cầu, họ vẫn tiếp tục không ngừng phát triển và mở rộng trên mọi ngóc ngách của thế giới. Khi họ đến, doanh nghiệp Việt Nam nên học hỏi cách làm ăn bài bản, chuyên nghiệp này để có thể tìm ra hướng đi riêng cho mình. Công bằng mà nói, tôi nghĩ doanh nghiệp Việt Nam không hề dở, trái lại rất giỏi thích ứng, nhưng vấn đề chính là phải thay đổi để phù hợp hơn với thị trường. Không nên có tâm lý thụ động, mong chờ sự bảo trợ từ một chính sách nào đó của nhà nước.

Đi tìm lời giải cho câu hỏi: Có thể cứu ngành công nghiệp ô tô?

Theo lý giải của ông Yoshihisa Maruta, năm 2018, khi thuế nhập khẩu từ ASEAN dỡ bỏ, giá xe nhập khẩu giảm sẽ giúp thị trường tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, phải đến sau năm 2025 trở đi mới là giai đoạn phổ cập hóa ô tô ở Việt Nam thì thị trường mới thật sự bùng nổ. Vì vậy, việc áp dụng những chính sách hỗ trợ ngành là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Phải quyết liệt thay đổi nếu muốn cứu ngành công nghiệp ô tô
Theo lộ trình hội nhập, đến năm 2018, ngành ô tô Việt Nam phải mở toang cánh cửa bảo hộ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cạnh tranh sòng phẳng giữa xe nhập khẩu nguyên chiếc và xe sản xuất, lắp ráp trong nước trong 5 năm tới.
Các chuyên gia cho rằng, khi thuế suất dần hạ về mức 0% thì giá xe nhập khẩu sẽ giảm mạnh so với giá bán hiện nay. Để có thể cạnh tranh với xe nhập khẩu, xe sản xuất và láp ráp trong nước buộc phải hạ giá thành sản phẩm. Muốn vậy, các DN sản xuất, lắp ráp phải có nguồn linh kiện nội địa trong nước đủ mạnh để đáp ứng. Nhưng trên thực tế, hiện nay, hầu hết linh kiện sản xuất phải nhập từ nước ngoài với giá khá cao.
Công nghiệp ô tô thế giới trước cuộc “cách mạng giá”
> Những “điểm chết” của ngành công nghiệp ô tô
> Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang lùi xa?
> Công nghiệp ô tô Việt Nam: 2018 rất gần
> Công nghiệp ô tô: Bao giờ hết khó?
> Công nghiệp ô tô: “Ngộp thở” vì thuế!
Việt Nam đã xây dựng ngành công nghiệp ô tô gần 20 năm nay, và hiện có 18 doanh nghiệp FDI, 38 doanh nghiêp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp với công suất 460.000 xe/năm. Nhưng điều đáng nói là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ dừng lại ở các công đoạn đơn giản như hàn, tẩy rửa sơn và lắp ráp với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt ở mức 7-10%. Chỉ có một vài doanh nghiệp đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% ở một số dòng xe.
Theo ông Jesus Metelo Arias, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển ngành công nghiệp ô tô là do chính sách thay đổi quá nhanh và quá nhiều trong khi thị trường chưa đủ lớn, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển. 

Việt Nam một mặt muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng mặt khác lại đưa ra hàng loạt các chính sách để hạn chế sự gia tăng của phương tiện giao thông cá nhân làm hạn chế thị trường. Để lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh cũng như đầu tư, các nhà sản xuất phải tính đến mức thời gian tối thiểu là 5 năm trong khi đó, chính sách ở Việt Nam thay đổi xoành xoạch khiến doanh nghiệp hết sức khó khăn, làm nản lòng các nhà đầu tư.
Trước thực tế của ngành sản xuất ô tô, ông Yoshihisa Maruta, Tổng giám đốc Công ty Toyota Việt Nam, cảnh báo rằng, nếu Việt Nam không có chính sách phù hợp trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 thì cơ hội để phát triển ngành công nghiệp ô tô sẽ không còn. Và nếu Chính phủ không có chính sách đảm bảo khoảng cách về chi phí sản xuất giữa xe CKD (nhập linh kiện về lắp ráp) và CBU (nhập khẩu nguyên chiếc) thì rất khó để duy trì ngành công nghiệp ô tô.
Theo lý giải của ông Yoshihisa Maruta, năm 2018, khi thuế nhập khẩu từ ASEAN dỡ bỏ, giá xe nhập khẩu giảm sẽ giúp thị trường tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, phải đến sau năm 2025 trở đi mới là giai đoạn phổ cập hóa ô tô ở Việt Nam thì thị trường mới thật sự bùng nổ. Vì vậy, việc áp dụng những chính sách hỗ trợ ngành là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Theo ông, Việt Nam nên học tập cách làm của Thái Lan, phát triển thị trường với dung lượng phù hợp trước khi mở cửa thị trường và tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô khi thị trường đã mở cửa.
Bài học mà ông Yoshihisa Maruta nhắc tới là trước khi mở cửa thị trường, Thái Lan đã xây dựng một ngành ô tô đủ mạnh, trong đó, rất chú trọng đến ngành công nghệ phụ trợ. Khi quyết định xây dựng ngành công nghiệp, Chính phủ nước này đã khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng để tăng khả năng cạnh tranh về giá đồng thời với việc giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất. 

Không chỉ vậy, Thái Lan còn đưa ra chính sách, lộ trình phát triển chắc chắn để các DN dựa vào đó mà lên kế hoạch sản xuất. Đến nay, sau 53 năm xây dựng và phát triển, Thái Lan đã đạt sản lượng 2,8 triệu xe, xuất khẩu khoảng 1 triệu chiếc và lọt vào Top 10 nước xuất khẩu ô tô hàng đầu thế giới. Riêng về phụ tùng, mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này đạt đến 5 tỷ USD, hơn tất cả những nước ASEAN cộng lại. Hiện ngành công nghiệp ô tô đã đóng góp đến 12% GDP cho nước này.
Theo ông Jesus Metelo Arias, để cứu ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ và chính sách thuế thấp hoặc bằng các nước trong khu vực. Hiện nay, chi phí sản xuất của Việt Nam cao hơn các nước khoảng 20% mà nguyên nhân chủ yếu là thuế cao (thuế nhập khẩu linh kiện, thuế thu nhập doanh nghiệp...).

Quan trọng hơn, các cơ quan của Việt Nam cần xây dựng chính sách ổn định va đảm bảo cho thị trường đồng thời với việc xây dựng các nhà cung ứng có thể tham gia vao chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, sản xuất trong nước mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và ngành công nghiệp ô tô mới phát triển.

Cùng bạn đi tìm tên cho hạt gạo Việt Nam

Bên cạnh đó, do nông dân canh tác trên đất nhỏ lẻ, quy mô sản xuất nhỏ nên chất lượng hạt lúa không đồng đều. Thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch còn nhiều bất cập, dẫn đến tỷ lệ thất thoát cao và không bảo đảm chất lượng. Nông dân phải tự lo máy gặt đập liên hợp (hiện nay đa số nông dân sử dụng máy gặt đập liên hợp khi thu hoạch), bốc xếp và phương tiện vận chuyển lúa.
Vô danh xứ người
Theo GS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường ĐH Nam Cần Thơ, sở dĩ gạo của Việt Nam tuy xuất khẩu nhiều nhưng vẫn chưa được đánh giá cao là do không có thương hiệu, trong khi gạo Thái Lan dù có nhiều thương hiệu gạo nổi tiếng nhưng khi xuất khẩu, Thái Lan chỉ dùng một giống gạo duy nhất là Jasmine, còn Ấn Độ có gạo Basmati...
Tại Hội chợ Thương mại Lương thực diễn ra vào tháng 5 vừa qua tại Bangkok, riêng Thái Lan đã có mười mấy thương hiệu gạo được giới thiệu, ngay cả Campuchia cũng có 8 thương hiệu, trong khi Việt Nam không có thương hiệu nào được đem đi quảng bá.
Cũng theo lý giải của giáo sư, một trong những nguyên nhân khiến gạo Việt Nam chưa có thương hiệu đặc trưng là do 90% DN xuất khẩu chỉ mua gạo từ thương lái chứ không có vùng nguyên liệu chủ động sản xuất, ngay cả Tổng công ty Lương thực là đơn vị đầu tàu, có quyền cấp phép xuất khẩu gạo cho các DN, cũng không có vùng nguyên liệu.
"Để có lời, các thương lái thường đi thu gom các giống lúa về trộn lại với nhau nên khi xuất khẩu không có một giống lúa nguyên chủng nào để đăng ký thương hiệu", GS. Xuân giải thích. Thực tế, khoảng 70% gạo xuất khẩu của Việt Nam là loại 25% tấm (loại phẩm cấp thấp, có giá thấp) và ngay cả loại gạo 5% tấm của Việt Nam cũng kém xa Thái Lan và Ấn Độ cả về chất lượng và giá cả.
Một yếu tố nữa khó khăn cho việc lựa chọn giống để trồng là các thương lái thường đánh đồng gạo cao cấp giá cao với gạo trung bình nên việc chuyên tâm tìm giống lúa tốt để trồng cũng không được nông dân chú trọng.
Không chỉ xuất khẩu, ngay tại thị trường trong nước, việc xây dựng thương hiệu cho gạo cũng khó khăn. Mặc dù trên thị trường hiện có hàng trăm loại gạo khác nhau nhưng giống hỗn tạp từ nguồn nguyên liệu sản xuất đến thu mua đóng gói.
Theo báo cáo khảo sát chương trình "Cùng nông dân ra đồng" của Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang: "Việt Nam chưa có điều kiện để xây dựng thương hiệu lúa gạo trên thế giới, cũng như trong nước vì chưa có bộ giống lúa quốc gia tiêu chuẩn. Mặc dù có định hướng của Nhà nước nhưng nông dân thường tự quyết định loại giống sẽ trồng do lo ngại về vấn đề tiêu thụ”.
Bên cạnh đó, do nông dân canh tác trên đất nhỏ lẻ, quy mô sản xuất nhỏ nên chất lượng hạt lúa không đồng đều. Thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch còn nhiều bất cập, dẫn đến tỷ lệ thất thoát cao và không bảo đảm chất lượng. Nông dân phải tự lo máy gặt đập liên hợp (hiện nay đa số nông dân sử dụng máy gặt đập liên hợp khi thu hoạch), bốc xếp và phương tiện vận chuyển lúa.
Thực tế, một số nơi sản xuất không đảm bảo kỹ thuật canh tác, dẫn tới chất lượng không đảm bảo, bị pha tạp nên DN khó thu mua, xuất khẩu và người sản xuất phải chấp nhận bán với giá thấp. Trong khi đó, DN Việt Nam cũng không có khả năng dự trữ lúa gạo lâu dài, lại phải chịu áp lực từ lãi suất ngân hàng nên phải bán nhanh, dẫn đến giá giảm...
Một khó khăn khác, theo đại diện của Công ty AG, là khi làm thương hiệu cho gạo, giá thành sẽ cao hơn nên khó cạnh tranh. Chẳng hạn, AG đang xây dựng thương hiệu cho gạo mầm (hạt đỏ) giống độc quyền của AG và chỉ trồng được ở vùng Bảy Núi - An Giang nên giá thành cao, gấp đôi gạo lứt, nên số lượng bán ra vẫn chưa nhiều.
Bắt đầu từ đâu?
Theo chuyên gia tư vấn thương hiệu Đoàn Đình Hoàng: "Muốn một sản phẩm có thương hiệu thì trước hết sản phẩm đó phải ổn định chất lượng và gắn với với một vùng nguyên liệu đủ lớn. Ví dụ gạo Hải Hậu được ưa chuộng và rất ngon nhưng do sản lượng ít nên không đủ cung cấp trên thị trường. Và trước nhu cầu người mua ngày một nhiều, các thương lái đã pha trộn các loại gạo khác nên làm mất uy tín thương hiệu".
Vì vậy, nói như GS. Võ Tòng Xuân, muốn có thương hiệu cho gạo thì phải tạo ra một chuỗi giá trị, trong đó quan trọng nhất là DN xuất khẩu gạo phải làm chủ được nguồn nguyên liệu.
"Hiện nay, DN nào cũng có thể thu mua gạo về bỏ bao xuất khẩu sẽ dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán, phá giá. Mà hạ giá thì chỉ có thể gian lận hoặc giảm chất lượng lúa", GS. Xuân bức xúc.
Theo ông, muốn làm được điều này thì phải tạo cho người nông dân yên tâm sản xuất để họ không phải chạy theo biến động của thị trường. Chẳng hạn, với một giống lúa tốt phải thu hoạch sau 4 tháng nhưng khi gặt lúa bán không được, nông dân lại chuyển sang giống lúa ngắn ngày hơn dù chất lượng gạo không cao.
Do vậy, phải có sự phối hợp tổng lực của nhiều đơn vị, tổ chức, trong đó ngân hàng phải làm đòn bẩy tín dụng để đồng tiền được đến trực tiếp tay người nông dân, không qua trung gian, bên cạnh đó phải xây dựng được tổng kho để bảo quản lúa thu hoạch và có đơn vị dự báo thị trường để định hướng sản xuất, đặc biệt thị trường đầu ra phải bền vững.
Hiện nay, gần như Việt Nam chưa có thị trường nào xuất khẩu ổn định, năm nay xuất khẩu sang Philippines, sau lại Trung Quốc, Nhật..., và mỗi thị trường lại yêu cầu một loại gạo khác nhau nên rất khó sản xuất.
Chia sẻ thêm về cách làm thương hiệu, chuyên gia Đoàn Đình Hoàng cho rằng, lâu nay, Việt Nam xây dựng thương hiệu cho hạt gạo trên một "lộ trình ngược", nghĩa là nông dân tự quyết định trồng loại gì, giống gì, tiêu chuẩn dựa trên cảm tính từ nhu cầu bấp bênh của thị trường.
Vì vậy, nông dân không thể đơn độc xây dựng thương hiệu được, mà Chính phủ, cùng các bộ, ngành, địa phương và nông dân cần hiệp lực, phải có Hiệp hội đứng ra làm nhạc trưởng mới có cơ hội thành công.
Theo kinh nghiệm của Columbia, mỗi một DN xuất khẩu cà phê khi xuất khẩu sẽ phải trích lại một khoản tiền tương ứng số lượng xuất để làm truyền thông cho thương hiệu và số tiền này giao cho Hiệp hội thực hiện.
GS. Võ Tòng Xuân cũng chia sẻ: "Tôi rất thích cách làm của Nhật vì lúc nào người nông dân cũng trồng trọt theo đúng lịch thời vụ. Lý do là chính quyền đã nghiên cứu kỹ và hướng dẫn nông dân làm theo, nếu không thành công, nông dân có quyền kiện chính quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại".
Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cũng tâm đắc cách xây dựng thương hiệu gạo của Thái Lan, nghĩa là chú trọng từ khâu giống, nông dân chỉ sử dụng giống xác nhận, không như Việt Nam, nông dân chỉ sử dụng lúa thu hoạch để làm giống cho vụ sau nên thường lẫn nhiều loại giống.
"Các DN xuất khẩu gạo Việt Nam cũng nên áp dụng các cách làm này để chọn lọc những thương hiệu gạo đặc trưng để có một chiến lược quảng bá, làm thương hiệu cho gạo Việt Nam?", ông Phong đặt vấn đề.

Chia sẻ cùng bạn về thị trường bán lẻ: Quyết liệt trước giờ G

Không chỉ có DN chuyên bán lẻ mở rộng hệ thống mà các DN trong lĩnh vực bất động sản, công nghiệp cũng đầu tư vào siêu thị. Trong đó, Tập đoàn Sơn Hà thành lập chuỗi siêu thị Hiway. Theo kế hoạch của DN này, trong 5 năm (2012 - 2016) sẽ xây dựng 20 siêu thị bán lẻ kết hợp khu vui chơi mua sắm tiện ích tại Hà Nội và sau đó sẽ phát triển ở những thị trường trọng điểm trong cả nước.
Chạy trước giờ G
Nếu như năm 2012, các DN bán lẻ trong nước ồ ạt mở điểm bán mới thì trong năm nay đầu tư mạnh mẽ hơn, tập trung mọi nguồn lực tài chính, hệ thống điểm bán, quản trị và gia tăng chất lượng dịch vụ. Trong đó, Saigon Co.op đã tăng cường độ phủ của tất cả các phân khúc, từ bán sỉ, bán lẻ, đến cửa hàng tiện lợi và thậm chí là bán hàng trên truyền hình.
Chỉ trong hai tháng 11 và 12, Saigon Co.op đã khai trương thêm 5 siêu thị Co.opmart tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Tính chung, đến thời điểm này, Saigon Co.op có 68 siêu thị Co.opmart, 70 cửa hàng Co.op Food, 140 cửa hàng Co.op, 1 đại siêu thị Co.opXtra và kênh bán hàng qua truyền hình HTVCo.op.
Citimart hiện có 1 trung tâm thương mại, 12 siêu thị, 6 siêu thị mini Family Mart, 8 cửa hàng tiện lợi Best&Buy và đang tiếp tục mở rộng mạng lưới. Theo bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, chủ đầu tư của thương hiệu này, đến năm 2017, Citimart sẽ có 100 siêu thị. Trong khi đó, hệ thống Maximark có 5 siêu thị tại TP.HCM, Cần Thơ, Khánh Hòa đang tiếp tục mở thêm siêu thị ở Bình Dương.
Không chỉ có DN chuyên bán lẻ mở rộng hệ thống mà các DN trong lĩnh vực bất động sản, công nghiệp cũng đầu tư vào siêu thị. Trong đó, Tập đoàn Sơn Hà thành lập chuỗi siêu thị Hiway. Theo kế hoạch của DN này, trong 5 năm (2012 - 2016) sẽ xây dựng 20 siêu thị bán lẻ kết hợp khu vui chơi mua sắm tiện ích tại Hà Nội và sau đó sẽ phát triển ở những thị trường trọng điểm trong cả nước.
Công ty CP Bán lẻ và Quản lý bất động sản Đại Dương (Ocean Retail) mới đây cũng đã khai trương siêu thị thứ 5 tại Hà Nội. Nhà đầu tư này cũng đặt tham vọng đến cuối năm 2015 sẽ có 70 siêu thị trong cả nước. Tập đoàn Vingroup cũng tham gia thị trường bán lẻ bằng kế hoạch phát triển chuỗi VinKC trên toàn quốc.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HĐQT Saigon Co.op, cho rằng: "Mạng lưới là yếu tố sống còn của tất cả các nhà bán lẻ để xác lập thị phần, tăng trưởng doanh thu. Việc mở cửa thị trường bán lẻ sẽ thu hút nhiều hơn nữa sự tham gia của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Khi có đầy đủ các nhà bán lẻ lớn thì môi trường kinh doanh sẽ năng động hơn nhưng đồng thời cạnh tranh cũng sẽ quyết liệt.
Điều này buộc các DN phải nâng tầm để cạnh tranh với những đối thủ tầm cỡ". Với số lượng điểm bán mới nhiều nhất trên thị trường nhưng Saigon Co.op vẫn liên tục mở rộng mạnh lưới để có thể đạt 100 Co.opmart vào năm 2015, phát triển trung bình 15 Co.op Food, 1 - 2 đại siêu thị mỗi năm để phủ rộng các điểm bán.
Áp lực không nhỏ
Dù bị rơi khỏi Top 30 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới, nhưng Việt Nam vẫn được coi là thị trường tiềm năng để các nhà đầu tư khai thác nhờ quy mô và số lượng người tiêu dùng. Vì thế, các thương hiệu nước ngoài vẫn đang tăng tốc mở rộng sự hiện diện.
Trong đó, nhà bán lẻ đến từ Hàn Quốc là Lotte Mart vừa khai trương hai siêu thị tại Bình Dương và Bình Thuận, nâng tổng số siêu thị của thương hiệu này lên con số 6. Dự kiến vào cuối năm nay, nhà đầu tư này sẽ tiếp tục đưa một siêu thị mới đi vào hoạt động.
Chuỗi siêu thị Big C mặc dù đã có 24 siêu thị nhưng trong kế hoạch vẫn không dừng lại việc mở rộng chuỗi. Không tiết lộ cụ thể mỗi năm sẽ mở bao nhiêu siêu thị mới nhưng ông Laurent Zécri, Tổng giám đốc Big C Việt Nam, cho biết, "sẽ không hạn chế số lượng điểm bán mỗi năm... nếu có mặt bằng".
Trong khi đó, một thương hiệu mới đến từ Nhật là Tập đoàn Aeon cũng đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng để đưa Aeon Mall đầu tiên tại Việt Nam hoạt động tại Celadon City, quận Tân Phú, TP.HCM vào tháng 1/2014. Tham vọng của nhà đầu tư này là sẽ đạt 10 trung tâm thương mại vào năm 2020.
Khi các DN trong nước và cả những nhà đầu tư nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam đang chạy nước rút để chuẩn bị cho thời điểm 2015 thì tập đoàn bán lẻ số 1 thế giới Wall Mart đã có những bước chân đầu tiên vào thị trường.
40%
Theo Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), tính đến cuối năm 2012, Việt Nam có khoảng 700 siêu thị, trong đó, 40% thuộc về các tập đoàn nước ngoài. Trong số 125 trung tâm thương mại đang hoạt động thì chiếm 25% trong số đó là của các nhà đầu tư ngoại.
Chưa biết khi nào siêu thị Wall Mart sẽ xuất hiện, nhưng hiện tại văn phòng đại diện của tập đoàn này đã thành lập và nhân viên Wall Mart đã làm việc với các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.
Một nguồn tin đáng tin cậy cho biết, Wall Mart đã đặt vấn đề mua hàng với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có cả nhà sản xuất nông sản sấy khô đứng đầu cả nước là Vinamit.
Cũng từ nguồn tin này, Wall Mart không chỉ đón đầu thị trường bán lẻ vào năm 2015 mà chuẩn bị để khai thác lợi thế của nhà nhập khẩu khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Theo các chuyên gia, với hệ thống siêu thị toàn cầu, mỗi năm Wall Mart tiêu thụ khoảng 40 tỷ USD hàng từ Trung Quốc. Nếu vào Việt Nam, đây sẽ là kênh xuất khẩu khá hiệu quả cho DN, nhưng cũng gây sức ép không nhỏ cho các nhà phân phối trong nước nếu tiềm lực tài chính không đủ mạnh.
Năm 2012, sức mua giảm sút và trước áp lực cạnh tranh của các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều nhà bán lẻ trong nước đã hết sức khó khăn. Trong đó, Fivimart đã phải đóng cửa các siêu thị ở TP.HCM và trả lại mặt bằng cho chủ đầu tư.
Hệ thống Hapro giảm kế hoạch phát triển mạng lưới, đưa siêu thị ra các vùng ven Hà Nội. Trong khi đó, nếu như trong nửa năm đầu 2012, Vinatexmart mở đến 13 siêu thị mới thì từ đầu năm đến nay, đơn vị này chưa mở thêm điểm bán mới nào.
Chỉ mới có Metro, Big C, Lotte... mà nhiều DN trong nước đã hết sức khó khăn. Không biết khi thị trường có thêm Aeon, Wall Mart..., các DN Việt Nam sẽ như thế nào? Ông Nguyễn Ngọc Hòa thừa nhận là hiện nay, các DN Việt Nam cạnh tranh ở thế không cân sức với các đối thủ nước ngoài.
"Không cân sức không chỉ về tài chính, kinh nghiệm mà còn ở sức mạnh mang tính hệ thống toàn cầu của các đối thủ”, ông Hòa nhận định. Bởi thế mà không có cách nào khác là phải nâng cả "chất" và "lượng" bằng việc phát triển độ phủ của các điểm bán lẻ đồng thời với việc nâng cao chỉ số thỏa mãn khách hàng để giữ vững thị phần trong nước.

Thực trạng vấn đề hàng Tết đầy kho

Theo ông Nhân, đây là năm đầu tiên hệ thống Co.opmart ưu tiên chọn mặt hàng đặc sản vùng miền nhằm tạo một món quà Tết đặc trưng thuần Việt. Bắt đầu từ 11/1/2014, các giỏ quà đặc sản Tết sẽ xuất hiện ở các Co.opmart tại TP.HCM. Trong kế hoạch, Saigon Co.op sẽ hình thành các cụm làng nghề để có nguồn hàng đặc sản theo từng vùng miền.
Chuẩn bị cho nguồn hàng Tết sắp tới, Saigon Co.op đã tăng lượng hàng thiết yếu lên gấp 2 - 3 lần so với tháng kinh doanh bình thường, đồng thời tăng cường hệ thống phân phối rộng khắp gồm 68 siêu thị Co.opmart, đại siêu thị kết hợp phân phối số lượng lớn Co.opXtraplus Thủ Đức, 63 cửa hàng thực phẩm Co.opFood và hơn 150 cửa hàng Co.op.
Ông Nguyễn Thành Nhân, Phó tổng giám đốc Saigon Co.op, cho biết, hệ thống Co.opmart đã dự trữ khoảng 80.000 tấn (5.000 tỷ đồng) các mặt hàng thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô, hàng may mặc, hàng gia dụng và đồ uống, tăng hơn 20% so với Tết Quý Tỵ.
Bên cạnh những mặt hàng được UBND Thành phố giao bình ổn giá như gạo, đường, dầu ăn, thịt gia súc, thịt gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả, trứng, thủy hải sản, Saigon Co.op đã chủ động dự trữ một số mặt hàng thiết yếu khác với giá tốt hơn so với thị trường tối thiểu 10%. Trong những ngày cận Tết, Saigon Co.op sẽ cùng với một số nhà cung cấp giảm giá từ 10 - 50% cho một số mặt hàng khác.
Trong số hàng dự trữ của hệ thống siêu thị Co.opmart, hàng đặc sản từ các sản phẩm làng nghề, đặc biệt là các làng nghề các tỉnh miền Tây chiếm một số lượng lớn. Cách đây 3 tháng, Saigon Co.op đã hỗ trợ các cơ sở sản xuất, làng nghề làm các thủ tục đăng ký kinh doanh, triển khai các vấn đề vệ sinh thực phẩm và ứng vốn để các cơ sở này sả xuất.
Theo ông Nhân, đây là năm đầu tiên hệ thống Co.opmart ưu tiên chọn mặt hàng đặc sản vùng miền nhằm tạo một món quà Tết đặc trưng thuần Việt. Bắt đầu từ 11/1/2014, các giỏ quà đặc sản Tết sẽ xuất hiện ở các Co.opmart tại TP.HCM. Trong kế hoạch, Saigon Co.op sẽ hình thành các cụm làng nghề để có nguồn hàng đặc sản theo từng vùng miền.
Chia sẻ tại tọa đàm "Sản phẩm mới - Nét mới của hàng Việt Tết 2014" sáng ngày 16/12, ông Huỳnh Quang Vinh, Phó tổng giám đốc Công ty Rau quả Thực phẩm An Giang (Antesco), cho biết, năm nay Công ty đưa ra thị trường 20 sản phẩm mới là những sản phẩm đặc sản của các tỉnh miền Tây như cá linh kho mía đóng hộp, đường thốt nốt đóng hộp...
Đây là năm đầu tiên Antesco tham gia thị trường bằng các sản phẩm Tết đặc sản sau 20 năm chuyên tâm cho xuất khẩu. Do còn khá mới nên Công ty đang bị thiếu nguồn lực cho công tác truyền thông và khuyến mại. Vì thế, dù số lượng sản phẩm mới nhiều nhưng Công ty không sản xuất đại trà mà làm theo đơn đặt hàng của đối tác, các nhà phân phối.
Mùa Tết năm nay, sản phẩm của các cơ sở làng nghề, đặc sản miền Tây tiêu thụ tại kênh hiện đại chiếm số lượng lớn. Bà Lê Thanh Trúc, Giám đốc Công ty Rượu Phú Lễ (Bến Tre), cho biết ở một tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh..., rượu Phú Lễ có sức tiêu thụ chỉ sau bia. Tuy nhiên, ở TP.HCM, Phú Lễ chỉ mới bước chân vào một số nhà hàng quán ăn.
Hai năm nay, nhờ tham gia chương trình "Hàng Việt về nông thôn" nên Công ty đã tiếp cận với một số hệ thống siêu thị và bước đầu đã đưa hàng vào bán. Mùa Tết này là năm đầu tiên, rượu Phú Lễ được "lên kệ” siêu thị Co.opmart.
Không ra sản phẩm mới ồ ạt như mọi năm, Tết này Sài Gòn Food chỉ làm một số đặc sản khô chế biến sẵn. Bên cạnh đó, Công ty đưa ra thị trường ba mặt hàng cháo bổ dưỡng tiện lợi. Hiện nay, các mặt hàng Tết tại Sài Gòn Food đã chuẩn bị với số lượng tăng 20% so với năm trước nên không lo chuyện thiếu hàng.
Tuy nhiên, điều bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty Sài Gòn Food và nhiều doanh nghiệp sản xuất lo lắng là vấn đề vận chuyển hàng trong dịp Tết. Năm nay, TP.HCM cùng lúc triển khai sửa chữa nhiều cây cầu, đoạn đường nên khâu vận chuyển sẽ gặp khó khăn, buộc doanh nghiệp phải thay đổi phương thức.
Hiện, Sài Gòn Food, Vissan đều đang tính đến việc dùng phương tiện xe máy, xe ba gác bên cạnh xe tải nhỏ để cung ứng hàng cho các kênh phân phối. Thậm chí, những doanh nghiệp này còn tăng cường giao hàng vào ngày thứ Bảy, chủ Nhật và cả ban đêm.

Cùng đi tìm thương vụ mua bán nào “ầm ĩ” nhất năm 2013?

Số tiền vay từ ngân hàng chỉ chiếm khoảng từ 10 - 20% trong gói tài trợ mua máy bay; còn lại phần lớn là từ nguồn tài trợ tín dụng xuất khẩu của các nước. Ngoài ra, còn có các nguồn vốn khác như phát hành trái phiếu, hoặc hình thức khác như bán và thuê lại và có thể từ nguồn khác, cũng đang xem xét là từ IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng).
Bên cạnh những hợp đồng mua bán trị giá hàng trăm triệu, hàng tỷ đô, còn có nhiều thương vụ chuyển nhượng rầm rộ diễn ra trong năm 2013.
VietjetAir mua gần 100 máy bay trị giá 9,1 tỷ USD
Ngày 25/9, tại dinh thự Thủ tướng Pháp tại Paris, Hãng hàng không VietJetAir của Việt Nam và hãng sản xuất máy bay Airbus ký thỏa thuận nguyên tắc (MOU) về đặt hàng tổng cộng 100 máy bay các loại dành cho VietJetAir (trong đó đặt mua 92 chiếc và thuê 8 chiếc). Theo VietJetAir, đơn đặt hàng này đảm bảo cho kế hoạch phát triển đội máy bay mới, hiện đại bậc nhất khu vực và phục vụ kế hoạch xây dựng tập đoàn hàng không đa quốc gia của hãng này.
Theo mức giá chính thức của Airbus thì giá trị giao dịch cho đơn đặt hàng này vào khoảng 9,1 tỷ USD, riêng giá trị mua vào khoảng 8,6 tỷ USD. Những chiếc máy bay đầu tiên sẽ được giao hàng ngay trong năm 2014.
Một chiếc A320 Sharklet của VietJetAir
Ngay sau khi thông tin mua gần 100 máy bay của VietJetAir được phát tán rộng rãi, hãng hàng không này trở thành tâm điểm của dư luận. Nhiều người băn khoăn VietJetAir lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để thực hiện thương vụ "khủng".
Trả lời báo với về vấn đề này, ông Lưu Đức Khánh, Giám đốc điều hành VietJetAir cho biết: VietJetAir thỏa thuận với Airbus là nhận máy bay theo từng quý, từng năm, tiến độ thanh toán rải đều trong 9 năm, chứ không phải cùng một lúc. Về nguồn tài chính, VietJetAir đã chuẩn bị kỹ càng tất cả các phương án trước khi đặt bút ký thỏa thuận.
Số tiền vay từ ngân hàng chỉ chiếm khoảng từ 10 - 20% trong gói tài trợ mua máy bay; còn lại phần lớn là từ nguồn tài trợ tín dụng xuất khẩu của các nước. Ngoài ra, còn có các nguồn vốn khác như phát hành trái phiếu, hoặc hình thức khác như bán và thuê lại và có thể từ nguồn khác, cũng đang xem xét là từ IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng).
Vietnam Airlines mua động cơ trị giá 1,7 tỷ USD
Cũng trong ngành hàng không, ngày 28/10, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã ký kết hợp đồng mua động cơ máy bay của Tập đoàn General Electric (GE), Mỹ với trị giá 1,7 tỷ USD.
Theo hợp đồng, Vietnam Airlines sẽ mua 40 động cơ GEnx mới của GE, dùng cho đội tàu bay Boeing 787 Dreamliners, dự kiến sẽ được chuyển giao vào năm 2015. GEnx là một trong những động cơ phản lực tiên tiến nhất hiện nay, chế tạo từ vật liệu composite sợi carbon có độ bền cao hơn và dễ dàng bảo trì...
Theo ông Phạm Ngọc Minh - Tổng giám đốc Vietnam Airlines, hợp đồng này sẽ giúp Vietnam Airlines nâng cao chất lượng dòng tàu bay Dreamliners 787-9, giúp dòng máy bay Dreamliner khai thác hiệu quả hơn.
Tập đoàn IAG mua Bảo hiểm AAA
Trong thông báo của Công ty cổ phần Bảo hiểm AAA hồi tháng 8/2013, công ty này cho biết, bà Đỗ Thị Kim Liên đã rút toàn bộ vốn (30% cổ phần) tại AAA dưới hình thức bán cổ phần cho Tập đoàn bảo hiểm nổi tiếng Australia Insurance Australian Group (IAG).
Trước đó, tại đại hội cổ đông thường niên của AAA diễn ra vào ngày 26/7, bà Liên chính thức từ nhiệm Chủ tịch HĐQT, ông Justin Paul Breheny - đại diện của IAG làm Chủ tịch mới của công ty này.
Bà Đỗ Thị Kim Liên và Jon Delalande
Sự kiện này đã giúp IAG nâng tỉ lệ sở hữu của tập đoàn này tại AAA từ 30% lên 60,9%, chính thức chuyển AAA thành một thành viên của IAG tại Việt Nam.
IAG gia nhập vào AAA từ tháng 6/2012 sau khi mua 30% cổ phần phát hành thêm của công ty này với mức giá công bố vào thời điểm đó là 20 triệu USD. Ngay sau đó, IAG cử 4 đại diện tham gia vào HĐQT của AAA.
Đến tháng 3/2013, bà Đỗ Thị Kim Liên tuyên bố nghỉ hưu và nhường lại ghế Tổng Giám đốc AAA cho ông Jon Delalande - đại diện của IAG nhưng vẫn giữ lại ghế Chủ tịch HĐQT.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, cơ cấu lãnh đạo mới của AAA phần lớn đều là người nước ngoài. Ngoài IAG còn có BankInvest (Đan Mạch), Tập đoàn Tái Bảo hiểm Aon Benfied, Tập đoàn Assist - Card International (Thụy Sĩ), International Medical Group (IMG)...
Tỷ phú Thái Lan mua lại chuỗi bán lẻ miền Bắc
Hồi cuối tháng 6/2013, tỷ phú Thái Lan Charoen Sirivadhanabhakdi đã hoàn tất thương vụ mua lại chuỗi bán lẻ FamilyMart tại Việt Nam.
Việc mua lại này được tiến hành thông qua công ty liên doanh Thai Corporation International (TCI), được góp vốn từ tập đoàn Berli Jucker Plc (BJC) của tỷ phú Charoen và Mongkol Group (Thái Lan). Lời đồn đoán về thương hiệu bán lẻ này của Nhật sắp rút khỏi thị trường đang dần trở thành hiện thực khi một số cửa hàng FamilyMart tại TP.HCM đã được đổi tên thành B's mart (B là ký tự đầu tiên của tập đoàn BJC).
Chuỗi cửa hàng FamilyMart giờ đây là của tỷ phú Thái Lan
Theo đại diện TCI, chuỗi bán lẻ B's mart dự kiến sẽ mang lại nguồn doanh thu ít nhất là 5 tỷ bath (hơn 3.300 tỷ đồng) trong vòng 5 năm tới. Đặc biệt, hơn 70% hàng hóa tại đây sẽ có xuất xứ từ Thái, còn lại là hàng Việt Nam.
Đầu năm 2013, tập đoàn BJC chi 32 triệu USD (hơn 670 tỷ đồng) để mua lại 65% cổ phần tại Thái An, một doanh nghiệp bán lẻ ở miền Bắc.
Ngoài ra, năm 2008, tỉ phú Charoen Sirivadhanabhakdi này còn thành công trong việc mua lại chuỗi nhà hàng sushi Nhật Bản Oishi, chuỗi nhà hàng này cũng đã xuất hiện tại Hà Nội.
Tỷ phú người Thái còn lộ rõ ý đồ thâu tóm khách sạn Melia Hà Nội. Tập đoàn TTC Land của tỷ phú người Thái này đang nắm giữ 65% cổ phần khách sạn 5 sao Melia Hà Nội.

Tìm hiểu về đạm Phú Mỹ trong vòng xoáy thị phần

Cũng phải nói thêm, đây chính là lợi thế để DPM tiếp tục tự tin nếu đẩy mạnh sản xuất tối đa công suất, song song với việc tăng cường các chương trình xây dựng thương hiệu, marketing, phân phối sản phẩm rộng hơn tới thị trường trong nước. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” luôn là một ưu điểm khiến DPM rất khó bị “soán ngôi” đầu trong lĩnh vực phân urê.
Kết quả kinh doanh năm 2013 của Đạm Phú Mỹ chắc không làm vui lòng các nhà đầu tư. Nhưng chưa chắc đã có làn sóng nói lời tạm biệt với cổ phiếu này.
Trong lĩnh vực phân urê, hiện Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – Đạm Phú Mỹ (DPM) là một trong hai doanh nghiệp lớn nhất nước ta tính trên công suất thiết kế đạt 800.000 tấn/năm. Tuy nhiên, trong năm 2013, doanh thu của DPM đang có dấu hiệu sụt giảm. Và nỗi e ngại, đã qua rồi “mùa bội thu”, không phải không có cơ sở.
Người hùng sa cơ?
Thực ra, sự giảm sút lợi nhuận của DPM đã được dự báo trước. Kể từ khi nhà máy Đạm Cà Mau thuộc Công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau tách ra khỏi DPM hồi tháng 11/2012, có thực tế khá bi hài diễn ra. Đạm Cà Mau trở thành “đối thủ” cạnh tranh trực tiếp với DPM, bởi có cùng loại sản phẩm và công suất thì tương đương.
Nhưng có một thứ Đạm Cà Mau lại lấn lướt hơn, đó là lợi thế địa lý khi nằm ngay ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long – vựa lúa của cả nước và cũng là thị trường tiêu thụ phân đạm lớn nhất nước. Và vì vậy, việc sụt giảm 43,6% doanh thu trong quí 3/2013 của DMP so với cùng kỳ năm trước liệu có phải là tín hiệu báo trước mùa canh tác không mấy bội thu của DPM trong năm?
Thực tế, bên cạnh việc DPM không còn bao tiêu sản phẩm của Đạm Cà Mau, việc sút giảm doanh thu của DPM còn đến từ sự sụt giảm của giá đạm urê, vốn là điều mà nhiều doanh nghiệp cùng ngành cũng đang gặp phải.
Theo chuyên viên Lí Hoàng Anh Thi, Bộ phận Nghiên cứu – Phân tích của Công ty Chứng khoán VCBS, doanh thu quí III của DPM sụt giảm cũng do nhu cầu phân bón đang giảm bởi yếu tố thời vụ (vụ Hè Thu đã khép lại). Thêm nữa, sự đổ bộ của phân bón nhập khẩu càng khiến sức ép cạnh tranh trên thị trường này tăng lên.
Trong khi Trung Quốc, nước sản xuất đạm urê lớn nhất thế giới tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm bằng mọi giá thì ở Việt Nam DPM và các doanh nghiệp nội địa vẫn đang nỗ lực giữ những miếng bánh thị phần lớn nhất. Hiện, 90% sản lượng urê nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Quốc, vốn có giá bán thấp hơn khoảng 500-700 đồng/kg so với giá của sản phẩm sản xuất trong nước.
Nhưng khó lòng thất thế
Tuy nhiên, với DPM nói riêng và các doanh nghiệp nội địa ngành phân bón nói chung, phía trước không phải chỉ là màu xám. Bản thân DPM đang sở hữu rất nhiều lợi thế. Mười năm trong ngành phân bón và ở một quy mô sản xuất lớn, năng lực vốn tương đương, DPM đã xây dựng được cho mình vị thế của một nhà cung cấp có doanh thu từ phân urê chiếm tới 95% doanh thu sản phẩm trong nước. Còn tính về thị phần trên cả nước, DPM hiện đang chiếm khoảng 50%.
Ở góc độ tài chính, DPM cũng đang là doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản đảm bảo nợ/vốn chủ sở hữu rất thấp (16% so với trung bình ngành 225%). Tỷ lệ nợ vay cũng rất thấp. So với tỷ lệ nợ vay của một số doanh nghiệp niêm yết cùng ngành như Công ty cổ phần Vật tư Tổng hợp và Phân bón Hóa sinh HSI đang có tỷ lệ nợ vay 84% hay như Công ty cổ phần Supe Phốt Phát và Hóa chất Lâm Thao (LSS) có tỷ lệ nợ vay 52%, thì khả năng thanh toán và tình trạng tài chính của DPM vẫn rất ổn, với tỷ lệ nợ chỉ 8%.
Mặt khác, nếu như DPM trong 9 tháng qua chỉ ở mức không đạt tốc độ tăng trưởng kỳ vọng thì HSI đang có tình trạng kinh doanh lãi âm và lũy kế cả lãi âm của cả năm 2012. Còn với LSS, tuy khả quan hơn nhưng lại có lượng hàng tồn kho rất cao nên khả năng thanh toán bị trì đọng.
Công ty Chứng khoán Phương Nam khẳng định: “Lượng tiền và tương đương tiền dồi dào, chiếm 42% tổng tài sản, đã giúp cho khả năng thanh toán hiện thời và nhanh của DPM ở mức cao trên 5 lần. DPM sẽ có ưu thế trong việc chủ động về vốn cho các dự án đang triển khai và sắp triển khai trong thời gian tới”.
Cũng phải nói thêm, đây chính là lợi thế để DPM tiếp tục tự tin nếu đẩy mạnh sản xuất tối đa công suất, song song với việc tăng cường các chương trình xây dựng thương hiệu, marketing, phân phối sản phẩm rộng hơn tới thị trường trong nước. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” luôn là một ưu điểm khiến DPM rất khó bị “soán ngôi” đầu trong lĩnh vực phân urê.
Đầu tư quốc tế, ai thắng ai?
Một khi cơ hội ở thị trường nội địa không còn dồi dào, đầu tư ra thị trường nước ngoài, khai phá thị trường nông thôn của các quốc gia trong khu vực Asean là hướng mà hầu hết các doanh nghiệp ngành phân bón đều tính tới.
Hiện nay, tại các thị trường như Campuchia, Trung Quốc, thậm chí ở một số thị trường xa hơn như Úc đều đã có một số doanh nghiệp Việt Nam như: DPM, Đạm Cà Mau, Phân bón Năm Sao, HSI, Phân bón Bình Điền… hiện diện.
Đặc biệt, tại Campuchia với khu vực Biển Hồ – vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và tạo nên trung tâm Campuchia, các doanh nghiệp ngành phân bón Việt đã rất quan tâm đẩy mạnh khâu “làm thị trường”.
Phải nói rằng, DPM đã luôn tiên phong đầu tư khai phá mở rộng thị trường ra ngoài lãnh thổ. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập thị trường lân cận của doanh nghiệp ngành phân bón hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả cao.
Thông tin mới nhất hồi đầu tháng 12/2013, Phòng Thương mại và Công nghiệp Campuchia đang đề xuất kế hoạch nhập khẩu phân bón của DPM và Đạm Cà Mau. Một lần nữa, DPM lại đang ở thế cạnh tranh trực tiếp với người em sinh sau đẻ muộn – Đạm Cà Mau.
DPM có thể thắng Đạm Cà Mau hay không? Giới chuyên môn đánh giá, ở thị trường này, cả Đạm Cà Mau lẫn Phân bón Năm Sao đều khó qua mặt được DPM vì những lợi thế đã kể trên của DPM .
Vẫn còn sớm để trả lời câu hỏi: liệu năm 2014 DPM có tiếp tục giữ nguyên được miếng bánh thị phần và tiếp tục cho các nhà đầu tư “một mùa bội” thu như điều mà DPM đã làm được trong suốt nhiều năm? Bởi với DPM, ngoài những lợi thế nội tại thì làm sao để thắng “hạt ngọc mùa vàng” Đạm Cà Mau trong tình cảnh “gà cùng một mẹ”, và làm sao để luôn lấn lướt các doanh nghiệp cùng ngành khác, lại phụ thuộc rất nhiều vào lựa chọn của nhà nông.